Hà Nội Tết

[Sành Điệu Style (139) | 01.2013 | Bùi Mai Hương]

Năm 28 tuổi, lần đầu tiên trong đời, tôi không được ăn Tết Hà Nội. Tôi cứ tự tin rằng ở cái tuổi “vẫn biết ta giờ không trẻ quá” ấy, tôi sẽ chịu đựng được cái Tết xa Hà Nội không đến nỗi khó khăn. Hôm ấy là 30 Tết, nơi tôi sống chậm hơn Hà Nội sáu giờ, đến 3h chiều, tự dưng lòng tôi bồi hồi, xốn xang khó tả. Tôi vội vã bỏ hết thí nghiệm, sách vở, hối hả đạp xe ngược chiều tuyết về nhà. Nơi tôi ở không có VTV4, internet chập chờn, nhưng khi vừa bắt được qua máy tính những hình ảnh đầu tiên của cầu truyền hình chiếu cảnh người dân tụ về Bờ Hồ đêm giao thừa, nước mắt tôi cứ lăn dài không gì ngăn nổi. Hà Nội của tôi đã thực sự Tết rồi!

Sau này, tôi còn phải xa Hà Nội mùa Tết nhiều năm, nhưng tôi đều chuẩn bị cho sự xa cách ấy một cách chu đáo như cắm sẵn hoa, nấu sẵn nồi măng khô, làm nộm su hào… và về thật sớm để đón Tết online với Hà Nội. Tôi đã thấm thía, không được ăn Tết Hà Nội là một cảm giác rất khó chung sống, bởi Tết Hà Nội không chỉ thấm đẫm phong vị Tết Bắc mà còn là thời điểm, nét văn hoá Hà Nội xưa được gợi lên nhiều nhất, là thời khắc những kỷ niệm ấm áp lại ào về trong lòng mỗi người.

HÀ NỘI NHỮNG NGÀY ÁP TẾT

Người ta vẫn có câu “30 chưa phải là Tết”, nhưng với Hà Nội, có lẽ “tết” nhất lại là những ngày trước 30 khi người Hà Nội chuẩn bị Tết thật kỹ càng, chu đáo, tinh tế và rất phong lưu. Khi tôi còn nhỏ, Hà Nội trải qua những năm cuối cùng của thời bao cấp, thiếu thốn đủ đường, vậy mà tôi vẫn nhớ nhà nào cũng phải lo đủ những cặp bánh chưng thật rền, bánh mứt kẹo Hà Nội, hoa violet, hoa thược dược và một băng pháo phân phối. Ngày ấy nhà nhà đều tự gói bánh chưng, có muốn mua sắm cũng làm gì có. Mẹ ngược xuôi mới lo được mớ lá dong tươm tất, bố đi làm đến tận 29 Tết mà tối về ngồi lo gói bánh sao cho vuông đẹp. Tôi nhớ mãi cái cảnh cùng đám trẻ trong xóm “thồ” bánh chưng bằng xe đạp đẩy ra xưởng Cơ khí Bách khoa, luộc trong cái thùng gang to đùng, rồi lại hì hục thồ về, háo hức lắm để còn bóc cái bánh chưng con xinh xinh của riêng mình.

Ở nơi khác, ăn Tết có khi chỉ cần no ấm là đủ, nhưng ở Hà Nội, hoa đôi khi còn quan trọng hơn bánh kẹo. Vào nhà nhìn hoa là biết phong thái gia chủ, người cầu kỳ, người giản dị, người thích sum suê cho no đủ, người thích nhẹ nhàng tinh tế. Ngày ấy, nhà nào sang mới có bình lay ơn đỏ thắm, còn thì chỉ vài bông thuợc dược, violet và cúc susi là quý lắm rồi. Hà Nội Tết giờ đã no đủ, bánh trái gì cũng có, hoa violet, thược dược chẳng còn là mốt, nhưng ký ức Tết xưa mạnh đến nỗi giờ đây, mỗi khi ra Hà Nội ăn Tết, tôi đều tìm mua và cắm một bình hoa violet tím ngời ngợi nhớ thương.

Hà Nội có nhiều chợ hoa, nhưng người Hà Nội thích đi chợ hoa Hàng Lược, và người ở xa có lẽ cũng nên tới chợ hoa Hàng Lược. Hoa chen trong phố, người chen trong hoa. Chỉ ở Hàng Lược mới có cảnh có người cầm đi bán chỉ một cành đào, bán đắt rẻ đôi khi chỉ vì… thích người mua hay không, bán xong chưa về vì còn đi chơi chợ hoa tiếp. Tôi hay sà vào khu vực bán hoa thuỷ tiên. Tôi không nhớ đọc ở đâu mà cứ ấn tượng mãi về thú chơi hoa thuỷ tiên của các cụ xưa, mua củ hoa về tự gọt, tự chăm và tự canh sao cho hoa nở đúng đêm Giao thừa. Giờ thì ít người còn cầu kỳ được đến thế, nhưng nhiều người Hà Nội vẫn mua giò thuỷ tiên đã gọt sẵn, đã đơm nụ chúm chím, chùm rễ dài trắng muốt trong cái bình thuỷ tinh trong suốt, canh tưới nước ấm hay lạnh để hoa nở đêm ba mươi, mùi hoa ngọt ngào trong cái lạnh se sắt.

Hà Nội bao quanh bởi các làng hoa. Dù giờ có mai một đi nhiều, nhưng đi xa mới thấy, Hà Nội vẫn là đất của hoa. Chả thành phố nào mà chỉ cần đi một chút ra ngoại ô, bạn đã gặp những “ruộng hoa, luống hoa” đẹp đến thế. Hoa không bạt ngàn như những cánh đồng hoa Hà Lan mà xen kẽ trong làng lúa, đôi khi lẫn với cả những ruộng cải vàng hoa, những vuông đất mới ải. Làng hoa Nhật Tân không còn rộng đẹp như ngày xưa, nhưng nếu muốn lang thang giữa những hàng đào tươi mởn, hàng quất chín mọng, bạn còn nhiều chỗ để đi lắm.

Tôi rất thích ngắm những gốc “lão đào” ở Nhật Tân vương những bông thật thắm, dù còn nguyên những vết cắt trên thân cây chia tay những cành đào đã về phố. Hoa hồng đỏ, hoa cúc hải đường, hoa đồng tiền, hoa sói tạo thành những ô màu đẹp mắt cho làng hoa Tây Tựu, điểm đến ưa thích ngày xưa của đám sinh viên. Hà Nội bây giờ lên đê Nhật Tân còn được ngắm đào rừng, cành lớn lá xanh, hoa màu phai ùn ùn về phố, còn được ngắm vô vàn những chậu lan quý giá từ Đà Lạt chở ra, nhưng sao tôi vẫn thích những thứ hoa giản dị đặc trưng của Hà Nội xưa, như chậu đỗ quyên không thể thiếu trên bậu cửa hay bậc cầu thang của những gian nhà Hà Nội chật hẹp.

Hà Nội cũng là xứ sở của mứt và ô mai Tết. Bây giờ, lên Hàng Đường một lúc là có đủ mọi thứ, nhưng tôi lại thèm mấy loại mứt Hà Nội đặc trưng chả mấy ai bán, toàn phải tự làm: mứt cà chua, mứt quất nguyên quả, mứt táo ta và mứt khoai tây. Mứt quất đâu chả có, nhưng phải là thứ mứt còn nguyên cuống, quả chỉ được ép bớt nước và hạt ra nhờ những nhát khía hình hoa, và không bị ép phẳng. Mứt táo ta thì phải là loại táo Thiện Phiến ngày xưa, quả dài và cùi dầy. Mứt khoai tây thì miếng phải mỏng, trong, đường bám thành lớp trắng tinh mịn màng, ăn thơm và bùi bùi. Tôi nhớ ngày xưa, các mẹ và đám con gái mới lớn chúng tôi tối nào cũng hì hục cắt khoai cắt táo ngâm nước vôi vài ngày rồi đun mứt đến khuya, ngâm không khéo một chút là miếng mứt sẽ dai, đun to lửa một chút là mứt cháy, nhưng làm cho ra để mời khách là tự hào sung sướng vô cùng.

Chuẩn bị cỗ Tết Hà Nội là cả một sự cầu kỳ, tinh tế, tỉ mỉ, chu đáo và… mất thời gian vô cùng. Chả trách mà ngày xưa các bà các mẹ đôi khi… sợ Tết. Mẹ tôi cũng sợ, nhưng giờ khi đã làm mẹ, tôi hiểu, dù có bận rộn đến mấy tôi cũng sẵn sàng làm bởi những món ăn ấy là kỷ niệm tuổi thơ của con, là tình cảm mà mẹ giành cho gia đình, là hương vị sẽ theo con suốt cả cuộc đời.

Mẹ tôi luôn nhận là vụng về, thế mà tôi thích lắm nồi măng mẹ nấu, thơm và dừ tơi, tôi thích món canh nấm hương bao giò sống, đậm vị, ngọt ngào mà thanh tao, tôi thích món mọc miến, giản dị mà tinh tế, và dù đã ăn qua nhiều món nem các miền, ăn “chả giò” hải sản, tôi vẫn thích cái nem giòn tan thịt vừa vặn mà không có hải sản, nhiều rau và giá, của Hà Nội. Làm nộm su hào cà rốt sao cho tơi, giòn, thơm mà không chua gắt, trình bày đẹp mắt cũng có thể chiếm mất của mẹ cả buổi chiều, chưa kể có buổi ngâm ớt làm hoa sơ ý phỏng cả cánh tay. Con gà cúng Giao thừa cũng phải bẻ cánh khéo léo, luộc nhỏ lửa để không nứt da, và ngậm bông hồng đỏ, sao cho cả năm đủ đầy, may mắn và an lành.

Chu đáo đến thế mà nhà nào cũng cuống cuồng ngày 30. Cho đến giờ, tôi vẫn mê mẩn cái cảnh chợ Hà Nội ngày 30 Tết, sáng sớm đã tấp nập, vội vã, hoa tươi ngập tràn, tiếng nói lao xao xen tiếng gà quang quác, và đi đâu cũng thấy cảnh vài anh thanh niên vùng ven chở bán những bó lá mùi già thơm lựng để nhà nhà tắm tất niên. Hương lá mùi ấy là nỗi ám ảnh với tôi khi đi xa. Ngày xưa mẹ nấu xôi gấc sáng 30, tờ mờ sáng đã dậy trộn gấc với rượu cho thắm, năm nào cũng thế mà hồi hộp lắm, vì chỉ sợ không đỏ là “dông” cả năm. Giờ thì việc ấy đã có các cô hàng đỡ hộ, và tôi có thêm cái thú chen chúc để mua cho được bánh xôi gấc đóng khuôn đẹp mắt còn đang tỏa khói nóng hổi, bánh chè lam vàng óng và miếng chè con ong ngọt dịu thơm mùi gừng.

Chợ 30 cũng là nơi hoặc bạn phải mua rất đắt, hoặc mua được rất rẻ, hoặc giữa trưa phải vội vàng chạy lên chợ Hàng Bè để mua nốt những thứ trót quên. Vội vã hối hả thế mà đến đầu chiều là chợ vắng tanh, đìu hiu, các chị lao công đưa những nhát chổi cuối cùng, ai nấy đã về nhà nấu cỗ, tắm lá mùi, chuẩn bị cho đêm Giao thừa, thời khắc thiêng liêng nhất của năm đã tới cận kề. Lúc đó mà có dịp chạy xe qua Bờ Hồ, bạn sẽ thấy những ụ pháo hoa đã sẵn sàng để đem đến niềm vui cho mọi người lúc Giao thừa.

HÀ NỘI NHỮNG NGÀY ĐẦU NĂM

Ngày xưa, khi còn là cô bé lớp bảy, trong bài văn tả Tết, tôi đã viết “em nghĩ rằng tiếng pháo đêm Giao thừa tượng trưng cho niềm vui vỡ òa của mọi người khi năm hết Tết đến”. Bây giờ không còn pháo, không còn cái cảnh sáng ra đạp chân trên thảm xác pháo hồng như hoa đào trước cửa, và tôi cũng không còn ở tuổi thấy năm mới là thấy niềm vui vỡ òa nữa, nhưng Hà Nội những ngày đầu năm vẫn còn nguyên vẻ quyến rũ đến lạ thường.

Sáng mồng Một, Hà Nội ngủ muộn lắm, mặt Hồ Gươm cũng dường như chẳng muốn xao động. Nếu ra đường vào lúc này, nhiều khả năng bạn không gặp ai cả, trừ khi bạn theo bà theo mẹ đi lễ đầu năm ở mấy ngôi chùa cổ. Nguyên xuân là đây, khi tiếng chuông chùa thanh tao đón năm mới, khi các bà các mẹ đài các trong những tà áo dài nhung gấm nhẹ nhàng bước vào chùa. Mùi hương trầm ấm áp lan tỏa trong những hạt mưa bụi phơi phới bay…

Nếu muốn cảm nhận một Hà Nội tinh khôi, yên ả và thánh thiện, bạn hãy “xuất hành” sáng sớm mồng Một, hãy lặng nhìn Hồ Gươm từ cầu Thê Húc, hãy ngắm Hồ Tây bảng lảng sương sớm, hay đơn giản chỉ đi dạo trong phố cổ tấp nập nay tĩnh lặng đến tê người, bạn sẽ thấy tình yêu Hà Nội ngấm đến từng kẽ tóc. Nhà nhà treo cờ đỏ, phố phố sạch sẽ tinh tươm, mùi trầm mùi khói hương len đến từng góc nhỏ, dường như mọi vật trở nên tinh khiết và trong ngần trước năm mới.

Rồi người cũng về phố, rồi phố cũng đông dần lên, ai cũng quần áo mới, lòng ai cũng đẹp như khăn mới thêu. Người Hà Nội đặc biệt trọng câu chúc đầu năm mới, đến mồng Bảy mồng Tám rồi mà gặp nhau lần đầu năm mới cũng vẫn chúc, những lời chúc cho sức khỏe, cho công việc, cho may mắn và bình an. Ba ngày tân niên, nhà người Hà Nội đặc biệt đông khách, là họ hàng, là bạn bè đi chúc Tết, xốn xang và rôm rả. Ngày còn bé, tôi nhớ chỉ riêng hoàn thành hai việc được giao: rửa chén, pha trà mới và tiếp thêm bánh kẹo mứt sao cho luôn đầy là đã hết ngày, nhưng niềm vui nhận được tiền mừng tuổi đủ để đám trẻ hãnh diện với công việc được làm.

Năm mới nhà nào cũng bận, bận đi chúc Tết, bận đón khách, nhưng có lẽ bận nhất là cúng tại gia, ngày nào cũng đủ mâm cỗ mời các cụ tổ tiên về với con cháu. Chắc ít nhà Hà Nội bây giờ còn giữ được nếp cỗ “sáu bát tám đĩa” như ngày trước, nhưng cỗ nóng thơm, phong phú, bày đẹp, thay đổi ba ngày là cả một sự công phu của các mẹ. Còn đám trẻ thì chỉ ngày mồng Hai đã bắt đầu ngán, đã mơ đến bún ốc phủ Tây Hồ, bún ốc bà Sáu hay bún Hàng Chĩnh. Từ mồng Ba, Hà Nội nở rộ các hàng bún ốc, bún cá phục vụ khách chơi Tết, đây cũng là lúc các phần lễ nghi đã giảm bớt, để mọi người bắt đầu cái thú chơi xuân. Ai còn đang đi học thì lên Văn Miếu tham quan và xin chữ, ai muốn cầu may thì đi phủ Tây Hồ, ai muốn cầu duyên thì chùa Hà, ai muốn đổi món thì có thể lên khu vực nhà thờ Lớn, nơi những hàng quán mang phong vị Tây vẫn mở để phục vụ khách nước ngoài và khách Việt. Đã nhiều năm nay, cứ Tết đến là tôi lại ngồi ở quán cà phê Moca trên phố Nhà Thờ, nơi có khung cửa kính thật rộng để lặng ngắm dòng người qua phố, để hí hoáy viết cho riêng mình vài dòng đầu năm, hay đơn giản chỉ để ủ tay bằng ly cà phê hay tách trà nóng, xoa dịu cái lạnh trên đôi bàn tay phủ đầy hạt mưa xuân.

DƯ ÂM TẾT HÀ NỘI

Hội Gò Đống Đa bắt đầu ngày mồng Năm, cũng là lúc trẻ con bắt đầu đi học. Ngày còn bé, tôi cứ mong sao cho đừng đến sáng mồng Năm, bởi đấy là lúc hết Tết, là lúc đứa nào trốn học đi hội Gò sẽ bị phạt nặng lắm. Tôi thèm nhớ cái sinh hoạt ngày Tết, sáng ra là cỗ bàn, là tưới đào tưới quất, tối về là sục chân vào chăn ấm cùng đám trẻ trong khu nhà kể chuyện Tết, khoe nhau xem tiêu gì với số tiền mừng tuổi mới có. Tôi ao ước được làm người lớn, để bắt đầu mùa rình rang lễ hội của tháng ăn chơi, nào chùa Thầy, chùa Hương, nào Côn Sơn, Yên Tử… Cứ đến lúc nhà hóa vàng là tôi lại ước bao giờ cho đến Tết năm sau để lại được nấu bánh chưng, làm mứt, được đi lễ chùa Quán Sứ vào sáng sớm mồng Hai.

Bây giờ, tôi còn thèm Tết hơn cả hồi bé, bởi tôi biết, Tết là lúc người ở xa như tôi được về Hà Nội, cuống quit vội vàng hít hà hương cây mùi già thơm thảo, ăn miếng măng lưỡi lợn dày mà mềm ngọt, ngắm hoa đào se sắt trong gió đông. Năm nay tôi không được ra Hà Nội những ngày áp Tết mà chỉ ra khi năm mới đã sang. Tôi sẽ lấy lại cho mình chút dư âm Tết Hà Nội xưa với món măng món nộm, với nồi mứt Tết cho con gái, với chiếc bánh chưng con buộc lạt đỏ cho con trai. Tôi sẽ mặc chiếc áo dài trắng quần lĩnh đen thời con gái ngày xưa để đi lễ chùa cầu an, để nghĩ về những điều đã qua và những gì đang tới, nghĩ về những mùa xuân nối tiếp mùa xuân.

Tôi nhớ có năm, nhà được tặng cây mai vàng chớm nụ, thế mà mặc cho cả nhà mắc đèn sưởi, tưới nước ấm, cây mai đến mồng Ba cũng chỉ cho ba bông, và chỉ nở bừng khi tháng Tư về. Còn tôi, năm đầu ăn Tết phương Nam, mua bằng được cành đào phai về mà Tết chưa sang hoa đã nở bừng và heo héo hiu hắt, cứ như bộ dạng nhớ nhà của tôi. Tôi chợt hiểu rằng, hoa nở đúng đất, người đâu phải ở đó, Tết đi đâu cũng phải về nhà. Tôi phải về Hà Nội thôi, ở nơi đó, “tôi còn nhớ phố, nhớ mẹ của tôi, nhớ mối tình xưa, nhớ bạn bè xưa”. Ở nơi đó, Hà Nội vẫn nhớ thương chờ tôi!

Sài Gòn, những ngày cuối năm 2012

Advertisements

Nhất Lý ông-bản-sắc cao giá

  • Nguồn: Đẹp – Số 161
  • Phát hành: Tháng 6 năm 2012
  • Bài: Trinh Nguyễn

Đôi mắt với sắc ghi nghi hoặc chẳng có gì chung với bộ đồ thô màu mắm tôm nhạt rất an tĩnh ông đang mặc. Những cây đàn dân tộc bâng khuâng trong không gian của một phòng thu hiện đại. Những miếng ghép tưởng như không bao giờ khít đó lại ăn khớp với nhau dưới sự kết hợp của kỹ sư âm thanh Nguyễn Nhất Lý.

Nguyễn Nhất Lý sang Pháp khi cuộc sống bao cấp trong nước chưa đến những ngày ngột ngạt cuối cùng. Lúc đó, cuộc sống của nghệ sĩ biểu diễn còn là những ngày xin-cho dài. Họ trang điểm bằng phấn son nhà nước cấp với mùi nồng và hắc đặc trưng, đàn hát những bài ca hùng tráng, viết những tác phẩm ngày càng chịu nhiều ảnh hưởng của văn học, sân khấu Xô Viết – người anh cả tốt bụng của các nước xã hội chủ nghĩa.

“Tôi đã không được chứng kiến những ngày tưng bừng của nghệ thuật thời đổi mới, thời của Lưu Quang Vũ”, tựa lưng vào chiếc ghế tre dài nâu bạc, ông nói. Đó là thời nghệ sĩ thấy dần, vỡ dần bài học về sức mạnh của một nền kinh tế tự chủ. Phe vé xuất hiện, điều tiết nhu cầu của những người muốn bán vé lấy tiền đong gạo và người muốn thưởng thức nghệ thuật.

Đó cũng là thời thị trường đóng dần dấu ấn của nó lên sáng tác của các nghệ sĩ. Đạo diễn với kiểu tóc đuôi ngựa Doãn Hoàng Giang khi đó chia sẻ, những đoạn hay nhất là những đoạn phe vé khen nhất. Khen vì hay, và khen vì khách chịu mở ví mua vé vì nó. Nghệ thuật của những ngày đổi mới vẫn là những câu chuyện giữ gìn phẩm giá, nhưng cũng là câu chuyện rằng nghệ sĩ cần phải được trả lương ổn hơn để có thể sống mà sáng tạo, mà toàn tâm toàn ý với nghề.

Giờ đây, khi Nhất Lý trở về quê, thị trường đã “át vía” nghệ thuật phần nào. Sân khấu cười nhiều suất diễn hơn chính kịch. Ca sĩ thị trường sống khoẻ hơn những diva. Những đêm diễn nhạc kịch phần lớn phải có yếu tố nước ngoài hoặc chịu lỗ vốn mới chạy nổi. Còn nghệ thuật cổ truyền không thể có những buổi diễn thường xuyên. Thậm chí, có những đêm, nghệ sĩ hoá trang rồi lại tẩy đi vì quá ít khách xem nên phải huỷ vé.

“Tôi không muốn nói chương trình nghệ thuật nào chán, chán ra sao, nhưng nhìn chung là chất lượng thấp. Và tôi không thể thoả mãn với chất lượng ấy của chương trình, mức lương ấy của nghệ sĩ”, ông lộ rõ vẻ không hài lòng trong nhịp dồn dập của lời nói. Quan trọng hơn, ông không cam chịu…

RIÊNG MỘT GÓC LÀNG

Bây giờ Nhất Lý đã là một phần của đời sống văn nghệ nửa bao cấp nửa thị trường trong nước. Thực ra, ông còn ở ngay sát lằn ranh phân chia đời sống văn nghệ đó. Đứng từ bên tự do và thị trường, ông kéo những người có khả năng bước vào thị trường mà “chu du thiên hạ để học rùng mình”. Trong số những người từng ngấp nghé nay đã bước sang thế giới của thị trường nghệ thuật giá cao có nhóm nghệ sĩ xiếc đã tham gia vở xiếc “Làng tôi”.

Từ giã quần áo xiếc với kim sa óng ánh, với những nhịp trống dồn và âm nhạc minh hoạ phừng phừng qua loa chất lượng xấu, nhóm nghệ sĩ rơi tõm vào một thế giới màu sắc bình dị mà tinh tế hơn rất nhiều. “Có lẽ thẩm mỹ về trang phục biểu diễn của họ đã thay đổi nhiều”, hoạ sĩ Doãn Hoàng Kiên – một người cũng góp công góp sức với vở diễn bằng thiết kế mỹ thuật cho biết.

Trong “Làng tôi”, diễn viên mặc trang phục nâu sòng. Màu nâu trầm chứ không ngả đỏ phơi phới như phục trang của người nông thôn trên điện ảnh truyền hình. Họ không còn khoe ra những cơ, những múi mà với trang phục xiếc thường ai ai cũng nhìn thấy nữa. Cũng không còn những đạo cụ hoặc kim loại sáng lạnh hay viền xanh đỏ. Chỉ còn màu vàng nhạt của tre.

Và trong không gian vốn đã kiệm màu ấy, âm nhạc đương đại mang âm hưởng nhạc dân tộc – phần “đóng dấu ký tên Nhất Lý” nổi lên vô cùng day dứt. Ở những cao trào của một tiết mục nhỏ nhạc rộn rã nhưng không gợi kịch tính. Một hội làng đâu cần kịch tính như những vở diễn châu Âu. Xem vở diễn còn thấy được cách Nhất Lý cùng nhóm chuyên gia sáng tạo nghệ thuật Sân khấu Việt của ông đã Việt hoá xiếc như thế nào. Những phô diễn kỹ thuật được chuyển tải êm nhẹ như thể xiếc cũng là một phần của những niềm vui thường nhật.

Nhưng cũng chính điều đó khiến “Làng tôi” từng bị “phê” ít chất xiếc quá.

“Tôi nghĩ kỹ thuật xiếc không phải là điểm nhấn nổi trội của “Làng tôi””, nghệ sĩ Nhất Lý nói. “Nếu chỉ cố tình phô diễn kỹ thuật, thi đấu kỹ thuật thì trên những sân khấu quốc tế, chúng ta khó mà cạnh tranh được với người ta. Ở đây, “Làng tôi” bằng xiếc tre đã mở được một lối đi riêng và đã giúp cho nghệ thuật xiếc Việt được nâng giá”.

Lối đi riêng đó đã mở đường cho xiếc Việt đi khắp các nước châu Âu trong một hợp đồng dài tới ba năm mà vẫn có thể tiếp tục được gia hạn. Đương nhiên, cả giá vé lẫn tiền cho diễn viên đều cao.

MỞ LỐI CHO… TIỀN

Trở về Việt Nam, Nhất Lý tham gia xây dựng nhiều chương trình. Âm nhạc có, xiếc có. Nhưng chúng có ba đặc điểm chung. Một là mới, hai là có ảnh hưởng của nhạc truyền thống. Điều cuối cùng – rất quan trọng – nó luôn ẵm được… tiền, dù nhiều dù ít. Những thử nghiệm nhạc dân tộc với Đỗ Bảo được giải thưởng. “Làng tôi” xuất ngoại nhiều lần, lương diễn viên lên tới hai ngàn đô la mỗi tháng.

“”Làng tôi” hoàn toàn có thể diễn trong nước”, nghệ sĩ chia sẻ về chương trình cho tới giờ vẫn chủ yếu đi Tây này. “Vở diễn chưa về chẳng qua là do chúng tôi muốn khi ở Việt Nam, chương trình cũng phải có chất lượng như tất cả những lần nó xuất hiện trên sân khấu nước ngoài. Nhưng làm đủ chất lượng ở VIệt Nam lại rất khó. Cái khó không chỉ bắt đầu từ nhà rạp, phương tiện âm thanh ánh sáng mà còn khó cả ở khán giả. Nó đâu phải chương trình mà người xem vừa xem vừa thoải mái oang oang nói chuyện điện thoại”.

“Và nó còn có cái khó nữa do ngộ nhận về việc nghệ sĩ là phải phục vụ nhân dân. Cơ chế trước đây, nghệ sĩ phục vụ với giá vé thấp vì nhiệm vụ chính trị. Khi “Làng tôi” sang Pháp, có người yêu cầu chúng tôi diễn miễn phí cho Việt kiều. Tôi không chịu. Bắt nghệ sĩ phải phục vụ miễn phí là một thói quen xấu”.

“Hiện nay tôi đang tích cực tìm các đối tác để tổ chức biểu diễn “Làng tôi” tại Việt Nam và tôi sẽ chỉ để cho họ khai thác chương trình một khi các nghệ sĩ được hứa trả thù lao xứng đáng. Còn giá vé thích hợp cho chương trình này ở Việt Nam ư, theo tôi sẽ rơi vào khoảng sáu trăm ngàn một vé. Tôi đang làm việc với các nhà đầu tư và khai thác tư nhân Việt Nam để “Làng tôi” trở về trong một ngày gần nhất”.

“Tôi nghĩ rằng nếu ta đã dám mở cửa cho thị trường để có một nền kinh tế phát triển thì giờ cũng đã đến lúc ta nên dám mở cửa cho các hoạt động và tư duy sáng tạo nghệ thuật. Có thế mới dần dần có những tác phẩm tốt cho khán giả, mà khán giả nhờ tác phẩm tốt mới có trình độ thưởng thức tốt hơn”.

ĐI TÌM KHUÔN MẶT RIÊNG

Dưới góc độ sản phẩm của văn hoá nghệ thuật, “Làng tôi” là một thành công. Nhưng Nhất Lý chưa dừng ở đó. Phòng thu của ông sát Hồ Tây giờ đang “ủ” những ý tưởng mới.

“Phòng thu của tôi có tên là Phù Sa. Tôi đặt tên thế bởi muốn các nghệ sĩ nhiều thế hệ, nhiều vùng miền, nhiều quốc gia, nhiều dân tộc về đây làm giàu cho mảnh đất này. Ngày hôm nay tôi tương đối hài lòng vì việc đó đang xảy ra. Nhiều nghệ nhân, nghệ sỹ trong nhiều phong cách âm nhạc đã tới đây để cùng nhau trao đổi nghề và cùng nhau biểu diễn. Đó là cụ Kim Đức, anh Xuân Hoạch, chị Thanh Bình, anh Ngọc Đại, ca sĩ trẻ Lê Cát Trọng Lý, ca nương trẻ Phó Hà Mi, Nguyễn Khánh Linh, nghệ sỹ đàn môi Đức Minh, nhóm nhạc jazz Phù Sa và một vài nghệ sỹ nước ngoài.

Trong những buổi hoà nhạc của chương trình Luala Xuân Hè 2012, ban nhạc Phù Sa đã cho thấy cách các jazzman Việt Nam thuyết phục khán thính giả người Việt và du khách quốc tế như thế nào. “Cá nhân tôi, tôi tin rằng phong cách Việt trong jazz của họ sẽ gặt hái được nhiều thành công về nghệ thuật cũng như về doanh thu từ khán thính giả Việt Nam và quốc tế. Cũng chính những tài năng này mà chơi nhạc jazz giống hệt người phương Tây thì chắc họ sẽ chẳng thu nhận được mấy kết quả, cho dù họ chơi rất hay. Ban nhạc Phù Sa chúng tôi hy vọng giới thiệu được những âm hưởng đẹp của âm nhạc các dân tộc Việt bằng ngôn ngữ jazz và được đông đảo khán thính giả ủng hộ và chia sẻ”.

Về cái đích mình hướng tới ông nói, “Sẽ là những khuôn mặt riêng, những logo mới là các nghệ nhân. Nhiều nghệ nhân cổ nhạc sống, thực hành văn hoá của họ nhưng họ chưa hề có sản phẩm riêng và chưa có thu nhập tốt. Không giống như các diva nhạc pop như Tùng Dương, Thanh Lam, Mỹ Linh… có bộ mặt và kiếm được nhiều tiền bằng các loại hình nghệ thuật đại chúng”.

Kodak chỉ còn là quá khứ

  • Nguồn: Tạp chí Nghe nhìn Việt Nam – Số 99
  • Phát hành: 03/2012
  • Người viết: Quốc Đạt

Khi Kodak đệ đơn xin bảo hộ phá sản, tôi không hiểu lúc đó, CEO của hãng này – ông Antonio Perez có tự chụp lại khoảnh khắc đó bằng máy ảnh Kodak không. Nhưng có lẽ không cần, bởi thế giới sẽ lưu giữ khoảnh khắc gã khổng lồ của thế kỷ XIX, XX chính thức đầu hàng khi thế kỷ XXI mới bước vào thập kỷ thứ 2. Hãy nhìn lại những “khuôn hình” chính trong hơn một thế kỷ của thương hiệu nổi danh này.

Cha đẻ của Kodak là George Eastman. Lẽ ra tên công ty là NoDak (North Dakota – nơi Eastman sinh ra), nhưng thay vì chữ N ông George Eastman đã chọn chữ K có nhiều góc nhọn, sắc, rõ ràng và khệnh khạng nhất trong bảng chữ cái. Đúng là công ty của Eastman đã khệnh khạng trong hơn 100 năm qua đến mức người ta nghĩ rằng thương hiệu này sẽ bất khả chiến bại.

Công lao lớn nhất của Eastman là phát minh ra phim cuộn năm 1885, góp phần tạo ra bước ngoặt cho nhiếp ảnh thế giới. Tiếp đó là điện ảnh khi Eastman cùng Thomas Edison phát minh ra máy ký ảnh – thiết bị ghi lại các chuyển động liên tục của sự vật năm 1891. Trước đó, năm 1888, thương hiệu Kodak chính thức được đăng ký. Cũng trong giai đoạn này, câu slogan kinh điển của Kodak đã đi vào lịch sử: “You press the button, we do the rest/Hãy nhấn nút, còn chúng tôi sẽ làm phần còn lại”.

Là nhà nghiên cứu, doanh nhân có tầm nhìn xa trông rộng, ở vào thời điểm đó, ông già Eastman đã thuê các nhà khoa học làm việc toàn thời gian chỉ với mục đích: tạo ra sản phẩm tốt hơn và luôn đi đầu trong những phát minh độc đáo. Nhờ vậy, mỗi tuyên ngôn về chất lượng của Eastman cũng kèm theo sức nặng về thương hiệu Kodak ngày càng gia tăng. Chính sách này giúp Kodak tạo ra những bước ngoặt quan trọng, mang tính định mệnh.

ĐI VÀO LỊCH SỬ VỚI SIÊU PHẨM KODACHROME

Tập trung đầu tư cho chất lượng sản phẩm giúp Kodak tạo nên những “khuôn vàng thước ngọc” cho chất liệu phim. Năm 1935, Kodak cho ra đời siêu phẩm Kodachrome, loại phim 35mm màu đầu tiên trên thế giới, tạo ra bước ngoặt cho nhiếp ảnh và điện ảnh thế giới khi cuộc sống bên ngoài xuất hiện trên tấm ảnh và màn hình trong rạp chiếu với đủ sắc màu.

Với người Việt Nam, nhiều người có thể cảm nhận được điều đó khi sở hữu những chiếc tivi JVC màu đầu tiên trong thời kỳ đầu đổi mới. Đó là niềm kiêu hãnh khó tả. Những công dân của thập niên 40 (thế kỷ XX) hẳn còn kiêu hãnh hơn nhiều khi họ được chứng kiến khoa học đã ghi lại sắc màu của cuộc sống lên tấm giấy như phép lạ. Ơn lớn đó thuộc về ngài Eastman.

NĂM 1975 ĐỊNH MỆNH

Đúng 40 năm sau, vẫn nhờ cơ chế đầu tư vào nhân tài, kỹ sư Seven Sasson của Kodak đã phát minh ra máy ảnh kỹ thuật số đen trắng đầu tiên trên thế giới. Những tưởng đây là bước ngoặt rạng ngời của Kodak khi bước vào kỷ nguyên số. Nhưng không phải thế. Đây cũng là đường gấp khúc, đánh dấu sự đi xuống của thương hiệu này. Thị phần sản phẩm film cho máy ảnh của Kodak bị Fujifilm của Nhật Bản tấn công dữ dội, nhất là về giá cả. Mỗi bước tiến nhỏ của Kodak trên thị trường Nhật Bản lại là bước lùi lớn trước Fujifilm trên nước Mỹ.

Sở hữu phát minh máy ảnh kỹ thuật số đen trắng đầu tiên, nhưng lại tập trung phát triển máy… in khiến Kodak tụt hậu so với các đối thủ trẻ hơn, nhưng đủ khôn ngoan như: Sony, Canon, Nikon, Olympus… Còn những mẫu máy ảnh Kodak, dù từng bán rất chạy, doanh số cao, nhưng phát triển què quặt trên thị trường. Vì thế, những dòng điện thoại có tính năng chụp ảnh ra đời là cái tát ngọt ngào dành cho Kodak. Người tiêu dùng đã không còn sử dụng máy chụp phim. Máy ảnh kỹ thuật số phải ở đẳng cấp chuyên nghiệp, còn không chỉ cần máy ảnh là đủ!

Cuối những năm 1990, Kodak phải vật lộn về tài chính do sụt giảm doanh số bán hàng của phim ảnh. Năm 2000, Kodak hửng đông đôi chút trong phân khúc máy ảnh kỹ thuật số. Đến năm 2005, Kodak bừng sáng khi đứng đầu doanh số bán máy ảnh kỹ thuật số. Tuy nhiên, CEO của Kodak Antonio Perez lại cho rằng: kinh doanh máy ảnh kỹ thuật số “không hấp dẫn”, nên tiếp tục “đâm đầu” vào thiết bị in và chia sẻ ảnh kỹ thuật số.

Thất bại về chiến lược và không có người điều hành đủ nhanh nhạy để nắm thời điểm then chốt trong kỷ nguyên số, Kodak lại tuột dốc. Đến giữa tháng 7/2011, hãng này phải bán tháo các bằng phát minh về công nghệ hình ảnh kỹ thuật số. Tiếp đến là thuê luật sư để chuẩn bị đệ đơn xin bảo hộ phá sản sau khi đốt hết tiền vào phát triển máy in, kiện tụng với Apple “chôm chỉa phát minh” và thị trường film thoi thóp cùng dòng máy ảnh cơ đã đi vào tủ kính.

Như vậy, Kodak đã bỏ lỡ cơ hội phát triển dòng sản phẩm kỹ thuật số, bỏ qua điện thoại có chức năng máy ảnh, laptop có webcam… Giờ đây, chúng ta chỉ biết chờ/hy vọng tập đoàn Eastman Kodak sẽ tái cấu trúc để xứng đáng với những vinh quang từng có. Bởi chúng ta không thể quên thời điểm năm 1986 khi Kodak cùng các nhà khoa học phát minh ra chip CCD – cảm biến megapixel có khả năng ghi 1,4 triệu điểm ảnh đầu tiên trên thế giới. Khoảnh khắc đó không kém thước phim Kodachrome 35mm màu của năm 1935. Cũng chính Kodak đặt viên gạch đầu tiên cho các đĩa mềm máy tính, đĩa CD rewrite và máy in phun chất lượng hoàn hảo. Những người yêu điện ảnh sẽ không quên màu phim mà Kodak đã phủ lên Hollywood trong nhiều thập kỷ.

Thế giới đã ghi nhận cụm từ vựng “Kodak moment” như khái niệm cho mọi khoảnh khắc từ bình thường đến vĩ đại, từ thông thái đến lố bịch. Nhưng rất có thể, những khoảnh khắc sẽ thuộc về quá khứ, của Eastman và Edison, những người đã chứng minh với nhân loại rằng: chúng ta không thể trường sinh bất lão, nhưng chúng tôi có thể biến 1/100 giây của bạn trở thành vĩnh cửu.

“Nhìn” thấy gì ở "Tóc ngắn Acoustic – Một ngày"?

[Thể thao & Văn hóa | Khanh Chi]

Album mới nhất của ca sĩ Mỹ Linh cùng ê-kíp đã ra mắt và nhận được sự quan tâm của nhiều người. Quan tâm bởi Mỹ Linh là cái tên quá quen thuộc với đông đảo công chúng. Quan tâm bởi ê-kíp của cô: Nhạc sĩ Anh Quân, Huy Tuấn và ban nhạc Anh Em luôn là điểm nóng của nhiều cuộc bàn luận trong giới làm nghề. Quan tâm bởi những album trước của tập thể này đều tạo ra dấu ấn riêng cả trong sáng tác và phối khí. Với các sản phẩm của Mỹ Linh và ê-kíp, công chúng có thể nghe, còn đồng nghiệp ngoài nghe còn có thể nhìn. Vậy Tóc ngắn Acoustic – Một ngày khiến người ta “nhìn” thấy gì?

SỰ CẦU KỲ

Nói đến sự cầu kỳ, nhiều người liên tưởng ngay tới những chuyện như: Video clip này được quay tận Hong Kong, Thái Lan hay châu Âu… Hoặc giả như xiêm y mũ mão được may cắt công phu, người bay trên không bằng cáp treo hay cascadeur nhảy từ lầu cao xuống đất… Bao nhiêu thứ mà trên một thập niên trở lại đây, người ta thường thực hiện để tăng thêm “gia vị” cho sản phẩm âm nhạc của mình. Nhưng sự cầu kỳ của Tóc ngắn Acoustic – Một ngày chỉ gói gọn trong căn phòng khoảng 100m2 – đại bản doanh của nhạc sĩ Anh Quân: Anh Em studio.

Trong căn phòng ấy, tay trống Quốc Bình cùng với nhạc sĩ Anh Quân đã phải mất tới vài buổi chỉ để thực hiện mỗi công việc căn chỉnh, căng mặt trống, thu thử để tìm ra được âm sắc thích hợp cho từng ca khúc trong album, việc mà với một người làm phối âm trên máy tính (sequencer) có lẽ chỉ thực hiện trong 10 phút. Và để phục vụ cho công đoạn đó, có tới cả chục chiếc snare (một loại trống nằm trong cả bộ trống) được mua về cùng với cơ số mặt trống các loại. Rồi Anh Quân cùng kỹ sư âm thanh Chí Nghĩa mất tới cả tiếng đồng hồ chỉ để dò vị trí đặt microphone làm sao bắt được tiếng guitar hay nhất, trung thực nhất. Toàn bộ âm thanh của các cây nhạc trong album đều được thu với cách thức như vậy nên những công đoạn đó lại đi lặp lại với dàn dây vài chục người, với trompet, saxophone, oboe, piano…, chưa kể hát chính, hát bè. Để rồi tới công đoạn hậu kỳ khi nhìn vào cả trăm đường tiếng (track audio) trên bản thu, bất kỳ một tay mơ nào cũng phải lè lưỡi nếu không đủ độ kiên trì… Điểm cuối của sự cầu kỳ đó là toàn bộ album được mastering (giai đoạn cuối cùng để hoàn tất phần âm thanh tổng thể của album) bởi Doug Sax, một tên tuổi tại Mỹ.

Hẳn sẽ có người cho rằng, cầu kỳ và mất công như vậy để làm gì khi công nghệ giờ đây cho phép người ta làm ra album giản tiện hơn mà vẫn đảm bảo tính nghệ thuật? Cần nhớ rằng, Anh Quân và Huy Tuấn biết rất rõ điều đó. Album Tóc ngắn 1 được thực hiện năm 1998 đã thay đổi nhận thức của rất nhiều nhạc sĩ hòa âm. Trước đó, việc thực hiện album bằng cách làm nhạc trên máy tính hay sử dụng nhạc công thật vẫn còn mập mờ, không phân định rõ ràng. Nhưng giờ đây, với Tóc ngắn Acoustic, sau quá trình dài làm việc theo cách “nhân bản vô tính”, có lẽ Anh Quân cùng ê-kíp muốn hướng đến sự thuần khiết hơn, trung thực hơn của ngón đàn, của âm thanh và cá tính hòa trộn. Rõ ràng, phải là acoustic mới thỏa mãn điều đó. Không phải “kiểu acoustic”, “màu acoustic” hay “phong thái acoustic” mà là acoustic thật sự. Mà đã như thế thì sự cầu kỳ như trên là bắt buộc khi thu âm. Mặt khác, cầu kỳ để đi tới hoàn thiện. Điều này thường xuất phát từ mong muốn làm cho bản thân. Quan điểm cho rằng, làm nghệ thuật là cho công chúng không sai, nhưng trước khi dành cho công chúng, người nghệ sĩ làm cho mình trước. Thường thì làm cho mình bao giờ cũng cẩn thận để được tận hưởng cái thú, thỏa mãn cái tôi, điều không thể thiếu đối với người làm nghệ thuật. Bước tiếp theo đương nhiên sẽ xuất hiện (theo quy luật tất yếu) là giới thiệu cái hài lòng đó ra công chúng. Điều tối thiểu mà công chúng sẽ có là một sản phẩm tử tế.

ÂM NHẠC

Với những nghệ sĩ tên tuổi, khi ra một sản phẩm mới, thường thì bên cạnh sự hào hứng được giới thiệu thành quả của mình, họ còn phải đối mặt với những áp lực từ nhiều phía. Một trong những áp lực đó là sự đổi mới. Tìm đến cái mới là điều tích cực. Cái mới được “nảy ra”, “ngộ ra” thì khác. Còn cái mới để chống lại áp lực, để chiều lòng đám đông thì sẽ dễ đánh mất mình. Thay vì thế, họ làm tốt hơn hay hoàn thiện hơn những thứ đã định hình. Tóc ngắn Acoustic – Một ngày đi theo con đường đó.

Vẫn những cách dùng hợp âm tạo nên “thương hiệu” Anh Em, kết hợp đảo phách (syncope) hoặc chuyển điệu…, những cách dùng mà giờ đây rất nhiều nhạc sĩ trẻ chịu ảnh hưởng. Đặc biệt về âm sắc thì không lẫn vào đâu dù trong album này hoàn toàn thu âm thanh “live”. Góp phần vào đặc trưng ấy không thể không nhắc tới tiếng saxophone của Hồng Kiên hay cách phối brass (dàn kèn) của Anh Quân. Có một điểm là tổng thể album vẫn ra màu Anh Em nhưng mọi thứ được tiết chế hơn, bớt trưng trổ hơn so với các album trước. Phần guitar của Anh Quân gần như chỉ đóng vai trò đệm, phần ngẫu hứng có lẽ anh dành hết cho piano và saxophone. Các sáng tác của Anh Quân vẫn có nét quái trong giai điệu nhưng đã nhẹ đi nhiều. Tất cả phải chăng để làm cho album ra đúng tinh thần acoustic? Những sáng tác của Huy Tuấn có vẻ hợp với điều đó vì vốn dĩ những bài hát của anh luôn có chiều hướng ngả về giai điệu đẹp, có sức hút cụ thể.

Và không phải không có những nét mới. Đây có lẽ là album mà phần nhạc đệm có nét jazz rõ nhất của Mỹ Linh từ trước tới nay. Nhân tố tạo nên đặc điểm ấy là Tuấn Nam, người đã tu nghiệp ở Thụy Điển chuyên ngành piano jazz. Ngoài việc tạo ra một chút phong cách jazz, album này còn cho thấy phần piano nổi bật hơn so với những album trước. Sẽ là thiếu sót nếu không nhắc tới tính thính phòng của album. Sự tham gia của dàn dây với đầy đủ các cây trong bộ (violon 1, violon 2, viola, cello, contrebass) kết hợp với kèn oboe và những bản phối rất kỹ lưỡng tạo nên những âm thanh rất gần với soundtrack của Hans Zimmer, một bậc thầy làm nhạc phim chuyên dùng âm thanh dàn dây. Với Cơn bão (st: Hồng Kiên – Mỹ Linh) hay Mãi bên con (st: Anh Quân), chất thính phòng khiến người nghe thấy Anh Em không chỉ có R&B hay funky.

Một sự kết hợp thú vị nữa ở ca khúc Nhớ mưa (st: Huy Tuấn – Mỹ Linh), tứ tấu dây chơi trên nền nhịp 3/4 rất cổ điển nhưng Mỹ Linh cùng nhóm M4U lại hát bằng phong cách R&B. Hơi tiếc khi phần tứ tấu dây với cách phối bè rất tinh tế lại có phần bị lẫn trong tổng thể bài hát. Nếu rõ hơn nó sẽ tạo được một bản nhạc có tính phức điệu cao với 3 mảng rõ rệt: Mỹ Linh – tứ tấu dây – M4U.

VÀ MỸ LINH

Đã qua lâu rồi cái thời mà thi thoảng người ta lại nhắc đến Trên đỉnh Phù Vân, Chị tôi, Hà Nội đêm trở gió… với Mỹ Linh vì con đường cô đồng hành cùng nhạc sĩ Anh Quân, Huy Tuấn và ban nhạc Anh Em đã quá rõ ràng. Trước đây, ê-kíp thường hỗ trợ để cô có phần phối hay, có bài riêng, không bị loay hoay với thể loại. Còn bây giờ, cô không còn đứng trước dựa lưng vào tập thể đằng sau, không còn là người được hỗ trợ hay cần hỗ trợ. Cô đã là một nhân tố nằm trong ê-kíp sản xuất cho chính mình. Gần như toàn bộ phần lời của các ca khúc trong album là do Mỹ Linh viết (7/9 bài). Không đơn giản như nhiều người nghĩ về viết lời ca khúc, giai điệu trong Tóc ngắn Acoustic được hình thành trên những vòng hòa thanh rất chặt chẽ, liên quan đến cả phong cách, độ nhanh chậm và được tư duy bởi những cái đầu biết chơi đàn, nghĩa là kết cấu bản nhạc rất khoa học và khó phá vỡ. Mỹ Linh đã viết lời trên những bản nhạc như vậy. Cô đứng ngang hàng với Anh Quân, Huy Tuấn, Hồng Kiên trong album này về mặt tác giả. Điều này khẳng định sự chắc chắn của con đường cô chọn. Sự chắc chắn đó giờ đây khiến cô bình thản. Sự bình thản len lỏi trong từng câu hát nhưng vẫn nồng nàn, sự bình thản trong ca từ làm bài hát tự nhiên không sáo (điều rất dễ mắc phải khi đặt lời cho bài hát có phần nhạc được soạn trước). Hay sự bình thản đó là sự nhún nhường để tôn lên cả một ê-kíp đã đổ rất nhiều chất xám và sức lực cho Tóc ngắn Acoustic – Một ngày?

Nhạc sĩ Nguyên Lê: Tôi muốn làm thứ âm nhạc chưa hề có trên đời

[Phụ Nữ Online | Quỳnh Hương]

Nguyên Lê là một tên tuổi đẳng cấp thế giới của dòng nhạc world music hiện đại, ông đã làm nhạc jazz thể nghiệm theo cách dị biệt: tổ chức âm nhạc trên chất liệu truyền thống của các vùng miền từ Trung Đông, Caribê, Đông Âu, Bắc Phi.

Trong những chuyến viễn du bằng âm nhạc đến “tận cùng của thế giới” như thế, Nguyên Lê đã nhiều lần dắt người nghe khám phá tinh thần Việt Nam qua những điệu thức dân ca được hồi sinh trong không gian nhạc jazz và world music.

Năm 1996, Nguyên Lê làm CD đầu tiên với chất liệu âm nhạc truyền thống Việt Nam: Tales from Việt Nam (Những câu chuyện từ Việt Nam) – ca sĩ Hương Thanh hát những bài dân ca Việt trên không gian nhạc jazz thể nghiệm. CD này đã giành nhiều giải thưởng danh giá do các tạp chí chuyên về âm nhạc của thế giới bình chọn. Lọt vào Việt Nam qua con đường băng đĩa… lậu, Tales from Việt Nam gây nên một “cơn sốt” cuối thập kỷ 90 trong giới âm nhạc, bởi trước đó, những người làm nghề trong nước chưa ai từng nghĩ có thể “tiếp máu” âm nhạc cổ truyền với luồng sinh khí hiện đại như thế, bằng cách như thế. Sau đó, những album của Nguyên Lê được giới nhạc lùng nghe, chuyền tay nhau như “bảo bối”. Vì thế, không lạ khi Nguyên Lê là thần tượng của rất nhiều ca sĩ, nhạc sĩ hàng đầu trong nước. Những lần Nguyên Lê về VN biểu diễn, chiếm số đông khán giả là người trong giới nhạc, họ thú nhận mình được kích ứng và nuôi dưỡng niềm hưng phấn khi tiếp xúc với nhạc của ông. Buổi phỏng vấn này được “tranh thủ” trong giờ nghỉ ít ỏi của Nguyên Lê, khi ông đang cùng ca sĩ Tùng Dương tập dượt với ban nhạc cho đêm Quê nhà (12-13/7 tại Hà Nội).

– Trước Nguyên Lê, chưa ai khai thác dân ca Việt như thế nên tôi xin bắt đầu bằng câu hỏi: dân ca Việt Nam đã “đánh thức” ông như thế nào?

– Tôi sinh ra và lớn lên ở Pháp, nhưng từ nhỏ mẹ đã luôn ru tôi bằng những khúc dân ca quê nhà. Rồi theo bố mẹ đi chợ Tết hay những lễ hội của người Việt, tôi thường được nghe cải lương. Việc tiếp xúc âm nhạc truyền thống diễn ra với tôi rất tự nhiên, đến khi tôi trở thành nhạc sĩ chuyên nghiệp thì phần “cổ truyền” ngấm trong máu thức dậy. Tales from Việt Nam là CD đầu tiên tôi phối khí nhạc jazz trên nền dân ca Việt Nam cho ca sĩ Hương Thanh. Với ca sĩ, bài hát chỉ là bài hát, nhưng trong vai trò nhạc sĩ và nhà sản xuất, tham vọng tư tưởng của tôi lớn hơn. Tôi muốn với tai nghe người nước ngoài – họ thấy nhạc jazz hấp dẫn hơn vì mang yếu tố “bản địa” lạ lẫm. Còn với người Việt, họ sẽ được thấy nhạc truyền thống mang sinh lực mới, nó không phải thứ “âm nhạc bảo tàng” như họ vẫn suy nghĩ mặc định cho nó.

– Giới làm nghề trong nước vẫn nói Nguyên Lê là người đưa âm nhạc truyền thống của Việt Nam ra thế giới, còn bản thân ông có tự thấy đó là trách nhiệm của mình? Câu chuyện về sự hòa hợp giữa truyền thống và đương đại dường như diễn ra ở mọi ngành nghệ thuật, quan điểm của nhạc sĩ về việc khai thác thế nào để truyền thống vẫn mang nhịp đập đương đại trong âm nhạc?

– Thật vui khi được biết mọi người dành thiện cảm cho âm nhạc của tôi như vậy. Thực sự là nhạc Việt Nam không có chỗ trên bản đồ âm nhạc thế giới, nhạc pop thì chỉ cộng đồng người Việt nghe với nhau, trong sân chơi world music chiếm phần nhiều là nhạc châu Phi. Vì thế, tôi nghĩ cần có cách để công chúng toàn cầu biết đến âm nhạc Việt Nam – dựa vào di sản truyền thống là cách tốt nhất. Khi “mix” giữa truyền thống và hiện đại, tôi luôn chú trọng sự cân bằng giữa yếu tố “cổ truyền” và “đương đại”. Điều tôi thấy quan trọng hơn cả mà mình làm được là kết nối tình yêu, sự thông hiểu và ham muốn được hiểu biết về một nền văn hóa khác. Trong các dự án âm nhạc của tôi, những nghệ sĩ thường đến từ nhiều sắc tộc, họ có thể hòa thuận và rất gần nhau trong mối liên kết chung là âm nhạc.

– Có thể thấy các màu sắc cổ truyền của Tunisie, Algérie, Maroc, Ấn Độ… trong âm nhạc của ông. Tôi muốn biết về quan điểm của ông trong sử dụng nguyên liệu truyền thống, sản phẩm cuối cùng phải rõ ràng “căn cước vùng miền” hay phải ra “màu Nguyên Lê”?

– Tôi không muốn hạn chế âm nhạc của mình trong bất kỳ không gian văn hóa hay dòng nhạc nào, các dòng nhạc chỉ là khái niệm do chúng ta định ra, tên gọi không quan trọng, cái cốt tử là làm sao để hay nhất thôi. Truyền thống chỉ là chất liệu, trong một bản nhạc có khi tôi cần rất nhiều chất liệu mới đủ trạng thái như mình cần. Ví dụ như bài Lý ngựa ô mang đặc điểm chỉ có giai điệu, thiếu hòa thanh và nhịp điệu như mọi bản dân ca khác của Việt Nam, khi viết phối khí tôi đã đưa nhịp điệu và tiết tấu của âm nhạc châu Phi vào. Như vậy, nói là chỉ ra màu sắc Việt Nam cũng không đúng.

Khó có thể xếp nhạc Nguyên Lê theo ranh giới vùng miền hay tính thể loại, có chăng là xếp theo trường phái của chính Nguyên Lê mà thôi. Vậy đích đến cuối cùng mà ông muốn cho âm nhạc của mình là gì?

– Tôi có giấc mơ là làm nên thứ âm nhạc chưa hề có trên đời, nó phi ranh giới. Tôi đang và sẽ đi trên con đường ấy nên chưa thể hình dung được đích đến của mình.

– Để ca sĩ đứng được trong âm nhạc của ông, họ phải có phẩm chất gì? Tùng Dương là ca sĩ trong nước đầu tiên biểu diễn cùng ông, cậu ấy có điểm gì hòa hợp với âm nhạc của ông?

– Người ca sĩ có thể hát dòng nhạc gì cũng được, nhưng nhất thiết họ phải có cá tính riêng mạnh mẽ và kỹ thuật âm nhạc tốt – vì nhạc của tôi khác thường, nó không theo chuẩn mực nào. Làm việc với Tùng Dương rất thú vị, Dương có giọng rất hay và có sự nhạy cảm nhịp điệu hiếm ca sĩ có được. Đặc biệt, Tùng Dương hát cực kỳ Việt Nam nhưng cũng rất cấp tiến và mang tinh thần đương đại.

Xin cảm ơn nhạc sĩ Nguyên Lê về cuộc trò chuyện này!

Nguyên Lê người lạ hay quen?

[Thể thao & Văn hoá | Khanh Chi]

Tin nóng đang lan trong giới mê nhạc: nghệ sĩ nhạc Jazz danh tiếng người Pháp gốc Việt Nguyên Lê sẽ biểu diễn cùng ca sĩ Tùng Dương vào hai tối 12 – 13/7 tại Hà Nội. Nguyên Lê, cái tên mà khi nhắc tới thì bất cứ một nhạc công chuyên nghiệp nào ở Việt Nam đều gật đầu nói rằng: Biết. Nhưng biết thật sự Nguyên Lê và âm nhạc Nguyên Lê thì không hẳn đã nhiều…

Nguyên Lê là ai?

Khó có thể xác định một cách cụ thể. Chỉ biết rằng, trong tiềm thức của nhiều người, vào quãng năm 1997-1998 trong giới nhạc chuyền tay nhau CD (có nơi là băng cassette) kèm theo lời tán dương đầy phấn khích về những âm thanh phát ra từ đó. Ngoại trừ một số ít nhạc sĩ, nhạc công biết rõ về nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm này, đa phần số còn lại hăm hở mang về nghe để rồi vô cùng thích thú và ngạc nhiên đến mức quên cả tìm hiểu chủ nhân của nó. Thích thú và ngạc nhiên vì lúc ấy những làn điệu như Bèo dạt mây trôi, Qua cầu gió bay, Trống cơm, Lý ngựa ô, Lý cây đa… đa phần là phát trên đài phát thanh, trên vô tuyến hoặc diễn ra ở các cuộc thi văn nghệ quần chúng với cách thức hết sức quen thuộc và đều đều, nay bỗng lột xác trở nên cuốn hút với những phách đảo của bộ gõ hiện đại, những âm thanh điện tử đặc trưng Tây phương đan xen các nhạc cụ dân tộc và giọng hát Việt Nam không lẫn vào đâu. Thế còn quên cả tìm hiểu chủ nhân của nó? Có lẽ do đói thông tin và những lầm tưởng rất ngô nghê. Trong CD mà họ được nghe, những âm thanh synthesizer đi đồng âm với saxophone, một số đoạn hợp âm dịch chuyển lên xuống ở quãng hai thứ cùng với những câu chạy của guitar theo thang âm nửa cung và toàn cung luân phiên (half-whole) khiến họ liên tưởng tới Chick Corea (một nghệ sĩ mà Nguyên Lê từng trả lời phỏng vấn trên tạp chí Down Beat rằng anh rất thích). Thế là một số cho rằng CD này là ban nhạc của Chick Corea chơi và lấy chất liệu dân gian Việt Nam làm vốn để phát triển. Có thể nhiều người buồn cười nhưng vào thời điểm đó, báo chí Việt Nam viết về những ban nhạc hay những nghệ sĩ như Chick Corea rất ít. Internet thì vẫn còn bập bõm. Cùng với một chút mơ mộng và mong mỏi để có cái tự hào nên sự nhầm lẫn của một bộ phận những người chơi nhạc lúc ấy cũng có thể hiểu được.

Nhưng rồi mọi người cũng biết Nguyên Lê, một Việt kiều sống ở nước ngoài. Nếu là một nghệ sĩ phương Tây có thể mọi việc sẽ diễn ra vẫn theo trình tự vốn có. Đó là nghe để mở mang, để cập nhật, học hỏi… Nhưng là một nghệ sĩ, nhạc sĩ Việt (tạm gọi như thế) thì lại khác. Nó mang lại sự kích thích, khích lệ, đánh động vào lòng tự tôn. Mình cũng là người Việt, có lẽ mình cũng làm được điều gì đó chứ. Nhất là mình đang ở trong lòng cái mỏ mà quơ tay một cái là lấy ngay được một chất liệu dân ca. Thế là thay vì chỉ nghe để thấy thích thú, giờ đây họ còn thâm nhập vào từng cung quãng, từng hợp âm để tìm hiểu xem sự độc đáo nằm ở đâu. Có nhạc sĩ từng thổ lộ rằng, trong trạng thái lâng lâng, anh có thể đọc ra từng bè của những bản nhạc Nguyên Lê chơi.

Quen mà lạ

Cho dù là nghệ sĩ gốc Việt, nhưng ngoài cái tên và khuôn mặt Việt Nam ra, Nguyên Lê còn gì Việt nữa? Chắc cũng không nhiều. Anh sinh ra tại Pháp, sống tại Pháp. Còn với Việt Nam, anh về được một đôi lần. Theo những người đã từng tiếp xúc thì tiếng Việt anh cũng không nói được. Nghĩa là ở anh có rất ít ký ức về gốc gác, không có những tháng ngày tuổi thơ để lưu giữ thành kỷ niệm Việt, không được sống giữa những chuyển động của văn hóa quê hương. Những thứ mà theo nhiều người là rất quan trọng với việc chuyển tải âm nhạc dân gian. Nói cách khác, anh là người phương Tây thứ thiệt. Vậy sao anh làm nhạc dân gian Việt Nam tài tình thế, hồn vía không lẫn vào đâu. Người nghe có thể cảm thụ qua cánh cửa của dân gian Việt Nam cũng được, hay cảm thụ theo lối âm nhạc phương Tây cũng được.

Với một người quan sát âm nhạc dân gian Việt Nam từ xa, có lẽ, anh nhìn mọi thứ rõ ràng mạch lạc theo cách riêng của mình. Giống như hiện tượng một nhóm người hút thuốc trong phòng, với họ, không khí rất bình thường. Nhưng một người từ ngoài mở cửa phòng bước vào. Chắc chắn mùi khói thuốc xông lên sẽ khiến người này cảm nhận được ngay. Phải chăng Nguyên Lê cảm nhận những làn điệu Bắc, Trung, Nam đậm đặc theo một nguyên lý như vậy? Vả lại, sự ít cọ xát về đời sống văn hóa tạo cho anh tập trung hơn vào cung quãng, vào sự luyến láy của các làn điệu để nhận ra cái độc đáo, tinh tế của chúng mà không bị chi phối bởi những yếu tố như sự trang nghiêm, tính e lệ, hoặc giả như cái này phải ở lễ hội này hay cái kia phải vào cuộc gặp kia… Những thứ mang nặng tính nghiên cứu để dạy trong trường học, với anh, tất cả chỉ là cao độ, nhịp phách. Sự kết hợp phóng khoáng, thoải mái, đầy sáng tạo được hỗ trợ từ cái “quan sát từ xa” đó khó có thể có ở những nhạc sĩ “bên trong”. Họ thường chùn tay bởi những định kiến như “bóp méo nhạc dân gian” hay “lai căng”…

Trong gia sản âm nhạc của Nguyên Lê có rất nhiều dự án, nhiều CD đã phát hành, trong đó rất nhiều chất liệu của các quốc gia được sử dụng: Algerie, Maroc, Ấn Độ, Trung Quốc… Ở Việt Nam, khi nhắc tới Nguyên Lê người ta thường mường tượng ra những tác phẩm kết hợp với nhạc cổ truyền Việt Nam. Đó cũng là sợi dây kết nối giữa Nguyên Lê và nhiều nhạc sĩ, nhạc công trong nước. Tiêu biểu phải kể đến 2 CD Fragile Beauty Huong Thanh & Nguyen Le và Tales From Vietnam. Trong đó Tales From Vietnam chính là CD mà phần đầu bài viết đã nhắc đến. Trong CD này, những Qua cầu gió bay, Người ở đừng về, Trống cơm, Lý cây đa… được trình bày hết sức bất ngờ. Những màu sắc dân gian được vang lên bằng những nhạc cổ sáo trúc, nguyệt, tranh, bầu… Bộ gõ rất phong phú, bên cạnh đó có những nhạc cụ điện tử. Guitar thì do chính Nguyên Lê chơi. Gần như toàn bộ các tác phẩm trong CD này đều chú trọng tiến hành các tuyến giai điệu theo chiều ngang. Tức là ít khi dùng hợp âm. Đó cũng là nét đặc trưng của âm nhạc truyền thống Việt Nam. Các tuyến giai điệu đó chồng lên nhau và cùng chuyển động. Có lúc là giọng hát với đàn tranh rất thuần Việt, có lúc là giọng hát với những câu TUTI (tất cả chơi giống nhau) của dàn nhạc điện tử. Trong đó giọng hát vẫn là làn điệu dân ca quen thuộc còn dàn nhạc chơi cùng với lối đối vị bằng những thang âm mang âm hưởng nhạc Jazz. Đặc biệt những đoạn phát triển của dàn nhạc điện tử dựa trên chất liệu chủ đề được chia nhỏ rồi xen vào những chùm âm làm người nghe như cảm thấy một nghệ sĩ đang ngẫu hứng nhưng thực chất có hai hay ba nhạc cụ chơi đồng âm. Điều đó chứng tỏ bản nhạc được biên soạn chặt chẽ, trái với những chủ đề dân gian được trình tấu lúc đầu là thiên về trạng thái tự do và là đặc điểm chung của âm nhạc dân gian Việt Nam.

Không thể không nhắc tới tiếng đàn guitar của Nguyên Lê, ngoài những cách chơi thông dụng, anh còn dùng thang âm và cách nhấn nhá của vọng cổ để làm thành phong cách đánh riêng. Anh dùng nó vào cả những bài âm hưởng Bắc bộ (chỉ phảng phất). Đặc biệt trong dự án Nguyen Le “The Jimi Hendrix Project”, anh chơi những bản nhạc, ca khúc của Jimi Hendrix với lối đánh vọng cổ như ở trên. Hay trong CD mới nhất Songs Of Freedom, nhạc phẩm I Wish của Stevie Wonder được anh cùng ban nhạc chơi lại với đoạn guitar dạo đầu với cách nhấn của đàn phím lõm rất thú vị…

Ngày 12/7 này, trong chương trình Music On The Roof do nhạc sĩ Huy Tuấn tổ chức tại tòa nhà Pacific (Lý Thường Kiệt, Hà Nội), Nguyên Lê sẽ chơi những bản nhạc nằm trong gia sản âm nhạc của anh. Đặc biệt sẽ có ca khúc Giăng tơ (Lưu Hà An) do Tùng Dương trình bày được Nguyên Lê phối khí hứa hẹn nhiều thú vị. Đồng hành cùng anh còn có tay trống Quốc Bình, Hồng Kiên (saxophone), Tuấn Nam (piano), Vũ Hà (bass) và Vân Ánh (đàn dân tộc), những tên tuổi hàng đầu trong giới nhạc công Hà Nội. Nguyên Lê sẽ chơi với những nghệ sĩ Việt Nam 100%. Vậy những bản nhạc đó sẽ Việt hơn hay Tây hơn?

Phương Thanh – Kẻ phá phách hợp thời

[Đẹp 147 – Tháng 4/2011 | Hồ sơ nhạc Việt | Thủy Phạm]

Khi Phương Thanh “nóng bỏng” trên thị trường ca nhạc Việt những năm 1997-2000, có một vài giọng hát khàn không kém, thét gào không kém, đi hát lấy nghệ danh tương tự. Nhưng truyện cổ tích này không có dị bản. Dopping thế chỉ một liều là đủ.

Vịt con xấu xí

Khi Mỹ Linh đang từng bước chiếm những vị trí “đầu tiên” trên con đường âm nhạc của mình, từ giải nhất cuộc thi Giọng hát hay học sinh phổ thông trung học toàn quốc năm 1991, sau đó là đỗ thủ khoa thanh nhạc Nhạc viện Hà Nội năm 1993, liền năm đó giành giải Ca sĩ trẻ ấn tượng nhất Liên hoan các ban nhạc trẻ toàn quốc lần đầu tiên. Khi Lam Trường, khiêm tốn hơn, với giải nhì cuộc thi hát tiếng Hoa Thập đại tinh tú ở TPHCM năm 1995. Thì Phương Thanh lúc ấy đang vật lộn với cuộc sống cả ở ngoài đường lẫn trên sân khấu theo đúng nghĩa đen của từ này.

Là con thứ sáu trong một gia đình có bảy anh chị em ở Nông Cống, một huyện nghèo thuộc tỉnh Thanh Hóa, năm 6 tuổi Phương Thanh theo gia đình vào Nam, 13 tuổi bố mất, gia đình sống khá vất vả, có thời kỳ cả nhà tá túc trong một căn phòng ở khu nhà tập thể của Thông tấn xã Việt Nam, nơi làm việc của anh trai cô. Từ đầu những năm 1990, Phương Thanh đăng ký tham gia hàng loạt các cuộc thi ca hát tại các nhà văn hóa quận và thành phố, nhưng không đoạt được bất cứ giải thưởng nào, dù chỉ là khuyến khích. Khi đã nổi như cồn trên thị trường ca nhạc, Phương Thanh nhớ lại giai đoạn “xấu xí” này: “Trước hôm đi thi giọng hát hay thành phố, mình mua hẳn một băng nhạc Bảo Yến về nhại cho đúng giọng “Huế tình yêu của tôi”. Chờ đến lượt mình lâu quá, lũ trẻ con đá banh, mê quá, mình xin vào đá cùng. Đến khi mẹ hớt hải ra tìm thì giọng đã khản đặc và kết quả là trượt vỏ chuối, còn mình bị mẹ phạt nhịn đói cả ngày”. Phương Thanh đã hồi tưởng về “thuở hàn vi” của mình như vậy. “Hồi bé, mình hát dở nhất nhà nhưng mẹ lại nuôi ước vọng cho con gái trở thành sao. Lúc ấy, giọng Thanh khàn và khó tròn vành rõ tiếng, một ngày hai lần mẹ chở đến nhà văn hóa để luyện thanh. Nhiều khi mình khóc van mẹ đừng bắt đi hát nữa nhưng bà cứ một mực: “Mày phải làm ca sĩ!”. Đầu năm 1990, mình bắt đầu đi hát ở các nhà hàng, quán bar để kiếm tiền, thấy con gái cứ đi chiếc xe đạp cà tàng, mẹ liền vay mượn mua cho con một chiếc Chaly cũ rất hay chết máy dọc đường. Nó chứng kiến cảnh nhiều hôm Thanh mặc diện, trang điểm kỹ mà chỉ ngồi sau cánh gà mong ca sĩ chính đến muộn hoặc ốm để được ra hát thế. Nhiều hôm không được hát, mình chỉ biết khóc mà thôi. Chính vì những lăn lộn với nghề để kiếm sống đã khiến mình quyết tâm trở thành ca sĩ bằng được”.

Không ai đợi chờ Phương Thanh trên sân khấu ca nhạc, cũng không có ông bầu nào tới tìm cô sau sân khấu các cuộc thi ca hát. Vậy thì cô tự mình lăn xả vào đời sống ấy bằng giọng hát gần như có duy nhất một phẩm chất: máu lửa. Lúc bấy giờ TPHCM manh nha thành lập các nhóm hát. Phương Thanh, với bản tính ham vui và thấy hát một mình khó nổi, bèn xin vào tam ca Sao Đêm, cùng với hai thành viên khác là Nguyên Lộc và Quốc Hưng, hát lại những bài quen thuộc như “Ngọn lửa cao nguyên” (Trần Tiến), “Mùa xuân từ những giếng dầu” (Phạm Minh Tuấn) theo phong cách rock. Chỉ một thời gian ngắn, Sao Đêm “lặn mất tăm”, tuy nhiên “ánh sáng” từ một giọng hát lạ đã để lại ấn tượng mạnh đối với ông bầu trẻ nhưng rất uy lực trên thị trường ca nhạc (đặc biệt là thị trường băng đĩa) lúc ấy: Hữu Minh, ông chủ Kim Lợi Studio. Xem Sao Đêm hát trên sân khấu Nhà hát thành phố, Hữu Minh nhận thấy sự khác lạ, không giống ai trong giọng hát khàn máu lửa này, hoàn toàn có thể trở thành một “hiện tượng” mới trên thị trường ca nhạc lúc đó đang hừng hực đợi chờ… liền đánh tiếng mời Phương Thanh về phòng thu. Cần phải mở ngoặc giải thích thêm rằng, vào thời điểm ấy (những năm 1996-2000), băng đĩa (audio và video) là một mặt trận nóng bỏng trên thị trường ca nhạc chứ không phải là mạng xã hội như hiện nay. Tất cả các ngôi sao “hot” nhất trên thị trường đều tỏa nhiệt trên thị trường băng đĩa và những bản “hit” được săn lùng từ chợ Huỳnh Thúc Kháng đến các cửa hàng băng đĩa của Vafaco, Bến Thành Audio-Video, Hãng phim Trẻ và TT băng nhạc Trẻ, Saigon Audio… Và tại thời điểm ấy, Kim Lợi Studio là một trong những “lò” sản xuất băng đĩa nhạc nóng nhất, uy quyền nhất, không chỉ bởi phòng thu Kim Lợi khi ấy phải treo bảng ghi giờ để các ca sĩ “xếp hàng” chờ vào thu âm, mà còn bởi sự mát tay của Hữu Minh, người thừa hưởng gia tài sản xuất âm nhạc từ cha mình, ông Tư Kim Lợi, và đã góp phần làm nên cuộc thăng hạng của nhiều ngôi sao, trong đó có cặp Lam Trường – Phương Thanh.

Thành thiên nga

Từ Kim Lợi Studio, giấc mơ đổi đời bằng con đường ca hát của Phương Thanh đã nhanh chóng trở thành hiện thực. Hàng loạt bản “hit” liên tục ra lò, từ “Trống vắng” (Quốc Hùng), “Một thời đã xa”, “Lang thang” (Trường Huy), sau đó là ca khúc trong bộ phim cùng tên “Giã từ dĩ vãng” (Nguyễn Đức Trung), “Tình cờ” (Diệp Minh Tuyền),… Hai tác giả Quốc Hùng và Trường Huy được xem là hai cái tên gắn liền với sự bùng nổ của Phương Thanh. Đặc biệt, bản “Trống vắng” đã từng ghi âm tại Vafaco trước đó nhưng không thành công, được hòa âm lại với “độc chiêu” là câu bè cuối cùng do ngôi sao dòng nhạc Hoa lúc đó là Nhật Hào thể hiện, phong cách “ướt át” kiểu Hồng Kông, nói như một người trong giới sản xuất âm nhạc thời này, “đủ tạo nên một trang sức lấp lánh cho Phương Thanh giành lấy chiếc vé hạng nhất của con tàu nhạc Việt”. Còn “Một thời đã xa”, tuy ghi âm sau “Trống vắng” nhưng lại ghi hình trước và được tung ra thị trường trong album cùng chủ đề, trong đó Phương Thanh là nhân vật chính bên cạnh Lam Trường, Cẩm Ly, Bằng Kiều, Thu Phương… Đạo diễn Huỳnh Phúc Điền, sau này luôn sát cánh bên Phương Thanh, đặc biệt trong 2 liveshow “để đời” và “nhớ đời” của Thanh, chính là người quay clip đầu tiên này của Thanh tại Đà Lạt – clip xây lên nấc thang quan trọng trong sự nghiệp ngôi sao của cô. Video “Một thời đã xa” và CD cùng tên đã bán được khoảng 40.000 đĩa trên thị trường lúc đó (không tính băng đĩa lậu).

Ở đây, cũng lại phải mở ngoặc một lần nữa, để nói về cái clip “bậc thang quan trọng”. Như đã đề cập trong bài viết trước trong series “Hồ sơ nhạc Việt” (xem Đẹp 146), thời điểm 1997-1998 là thời kỳ vàng son của video ca nhạc, mà nói như bà Nguyễn Thanh Thủy, nguyên biên tập viên Hãng phim Trẻ và TT băng nhạc Trẻ, video ca nhạc đã góp phần quan trọng để “sinh” ra hiện tượng Lam Trường. Xuất hiện cùng thời điểm, Phương Thanh cũng nằm trong xu hướng này. Tuy nhiên, không có ngoại hình bắt mắt, thu hút như Lam Trường, mà ngược lại, Phương Thanh trong giới ca sĩ nữ còn bị xếp vào hàng “hơi bị xấu”. Trước năm 1995, trong làng văn nghệ ở Việt Nam hầu như không có hóa trang (make up) chuyên nghiệp, mạnh ai nấy bôi, trát. Năm 1996 nghề này bắt đầu bung ra. Và “vịt con” may mắn gặp Hồ Khanh (hay ngược lại?), có thể xem là chuyên gia make up đầu tiên tạo được danh tiếng trong làng showbiz. Hồ Khanh sau này còn gắn liền tên tuổi tay nghề với một ngôi sao khác của nhạc Việt là Mỹ Tâm, nhưng Phương Thanh mới là người đầu tiên thành thiên nga dưới bàn tay phù thủy Hồ Khanh.

Nhưng điều gì đã khiến giọng hát khàn đặc đến độ một nhạc sĩ cây đa cây đề từng phải ca thán là nghe như hỏng thanh đới (!), trượt vỏ chuối tại tất cả các cuộc thi ca hát lọt vào tầm ngắm của kẻ săn sao thiện nghệ Hữu Minh? Ở đây có một chuyện vui mà độ thực hư của nó chỉ người trong cuộc mới hay. Khi Phương Thanh mới nổi, và có người trong cơ quan quản lý văn hóa “chơi khéo” cô bằng cách đề nghị cho Phương Thanh đi thi Tiếng hát truyền hình TPHCM, đảm bảo… rớt! Phương Thanh nghe được tin này rất lo lắng. Nhạc sĩ Nguyễn Nam, khi ấy phụ trách ca nhạc Đài truyền hình TPHCM, đơn vị tổ chức cuộc thi Tiếng hát Truyền hình đã “cứu” Phương Thanh một bàn thua trông thấy bằng cách đưa cho cô ca khúc “Xa rồi mùa đông”. Và cô đã thành công với một “bài hát đứng đắn” của một nhạc sĩ chính quy thay vì những ca khúc não tình trên thị trường như nhiều định kiến trước đó. “Xa rồi mùa đông” trở thành một bản “hit” qua giọng hát Phương Thanh.

“Phương Thanh nói thay cho người ta bằng sự gào thét, giải tỏa bức xúc khi người ta không có gì để giải tỏa” – Hữu Minh nhận xét. Như nhiều người khác thừa nhận, chất giọng, kiểu hát “gào đến phát thương” của Phương Thanh, tại thời điểm bấy giờ, như một liều dopping cho một bộ phận giới trẻ có những nỗi đau, sự bức bối cần thét gào, cần bày tỏ (bây giờ thì cũng một bộ phận ấy đang tìm đến thứ dopping cao hơn, nguy hiểm hơn, là… thuốc!). Và sau nữa, ở Phương Thanh, số đông công chúng, nhất là giới công chúng bình dân, nhân dân lao động nhìn thấy hình ảnh của chính họ, thấy giấc mơ đổi đời của chính họ. Bởi vậy, khác với nhiều ngôi sao khác, Phương Thanh càng gần gũi, càng hát như nói chuyện, hát không trình diễn, thậm chí, nhiều khi, mệt quá do chạy sô, cô chỉ cần đứng trên sân khấu mà cười, nói hổn hển mấy câu khàn đặc chẳng ai hiểu gì…, cô càng được thích! Công chúng của Phương Thanh xem cô trình diễn không phải để xem một ngôi sao, mà để xem chính họ trong hình ảnh một ngôi sao.

Sức ảnh hưởng của Phương Thanh thì không phải bàn trong giai đoạn này. Một nhà tổ chức biểu diễn tên tuổi trong giai đoạn 1997-2002 (là năm hoàng kim của Phương Thanh) nhớ lại, khi ấy, duy nhất có hai cái tên mà bất cứ đặt vào chương trình nào, ở đâu, cũng thắng, là Lam Trường và Phương Thanh. Riêng Phương Thanh có khả năng làm nóng không khí buổi diễn bằng chính cá tính đặc biệt của mình, không điệu đà làm duyên mà hút khán giả bằng sự gần gũi hòa đồng. Khi chương trình Làn Sóng Xanh lần đầu tiên công diễn tại Hà Nội năm 1999, chỉ riêng hoa của khán giả tặng Phương Thanh và Lam Trường đã chất đầy… nửa sân khấu lớn ở Triển lãm Giảng Võ! Có thời điểm vào mùa Tết, chỉ cần Phương Thanh ngỏ ý muốn có tiền mua thêm nhà, mua thêm xe, một bầu sô đã chồng ngay cho cô tiền cát sê của vài chục suất hát với giá cao ngất ngưởng chỉ để sau đó “giăng băng rôn tên Phương Thanh lên để kiếm tiền”! Một hãng nước ngọt hạ quyết tâm “bắt” Phương Thanh bằng được cho hợp đồng làm đại diện thương hiệu sau khi hãng đối thủ đã bỏ ra một khoản tiền “khủng” để ký hợp đồng đại diện với Lam Trường. 80.000 USD cho một hợp đồng đại diện thương hiệu là con số kỷ lục hiện nay của một nữ ca sĩ mà Phương Thanh đã từng lập và hiện tại chưa hề bị phá.

Đời thực không như là mơ

Cuộc lột xác từ “bé Chanh” thành ngôi sao Phương Thanh được ví von như vịt con thành thiên nga thực ra chỉ là văn chương. Một so sánh đời hơn, Phương Thanh giống như lửa, tự đốt mình để cháy và đấy cũng chính là sức hút của cô trên sân khấu. Có điều, Phương Thanh “cháy” trong âm nhạc giống như cô sống trong đời sống, ngẫu hứng đến bất kham. Bài hát nào “hợp cạ” đã vào tay Phương Thanh thì không thể có ca sĩ thứ hai thể hiện lại. Nhưng chính giọng ca ấy cũng “đốt” ca khúc với tốc độ chóng mặt. Ở thời đỉnh cao, Phương Thanh “ngốn” bài liên tục, cô liên tục cần các bản “hit” mới để đốt nóng bản thân và khán giả. Cô chạy show chóng mặt không kém, mặc dù không nhằm mục đích kiếm tiền. Trong số các ngôi sao ăn khách trên thị trường ca nhạc trước nay, có lẽ Phương Thanh là người được các bầu sô thích nhất. Cô nhận show không hề so kè, miễn sao có khán giả đông vui là hát đến quên mình; những lúc mưa gió khán giả vắng, sẵn sàng không nhận cát sê; hát từ thiện cô có thể tặng thêm cả mấy chục triệu cho người nghèo (đến bây giờ Phương Thanh là ca sĩ hiếm hoi vẫn giữ nguyên được tình cảm của khán giả dù thực sự không còn ở thời đỉnh cao). “Dễ thương” vậy tất nhiên đôi khi cũng đồng nghĩa với “dễ dãi”, Phương Thanh không phải là người kén sân khấu và kén bài hát, thậm chí, còn ngược lại. Cô còn không biết giữ cả “lửa” của chính mình nữa là…

Nhìn lại quá trình hợp tác thuở ban đầu giữa Phương Thanh và Kim Lợi Studio, không ít người phải gật gù thán phục cách “cầm cương” con “ngựa chứng” của Kim Lợi. Có thời điểm, khi Phương Thanh đang là át chủ bài của Kim Lợi thì bất ngờ Kim Lợi lại giao ca khúc độc quyền lẽ ra “là của” Phương Thanh vào tay ngôi sao khác, vốn không hề là “gà” của Kim Lợi. Điều này thấy rõ ở bản “Tình 2000”, sau đó là “Tình ca muôn đời”, đều của Võ Thiện Thanh, được Kim Lợi mua độc quyền và thu âm với tiếng hát Mỹ Linh. Và cả hai, “Tình 2000” lẫn “Tình ca muôn đời” đều lập tức trở thành bản “hit” với tiếng hát Mỹ Linh. Phương Thanh lúc đó sốt ruột đứng ngồi không yên, khi ấy Kim Lợi mới tung ra cho Phương Thanh “Tiếng sét nơi vườn hoang”, được xem như “Trống vắng 2”. Biết kìm, biết giữ, biết “ra chiêu” đúng lúc, khi dồn dập, lúc khoan nhặt… – có thể nói Kim Lợi Studio, nói như một nhà sản xuất âm nhạc ở TPHCM, đã tạo nên “sự kết hợp ăn ý, đẩy cả hai (Kim Lợi và Phương Thanh) lên đến cực đỉnh quyền lợi mỗi bên”, nhưng trong sự hợp tác này cũng manh nha những điều “nhạy cảm” trong quan hệ ca sĩ – ông bầu mà sau này người ta sẽ thấy xuất hiện nhiều hơn trong giới showbiz Việt. Có lẽ bởi vậy sự kết hợp ăn ý (không chính thức, vì không có bất cứ hợp đồng ràng buộc nào) này không kéo dài.

Khác với Lam Trường, người không tin ai ngoài mình, Phương Thanh lại đặt lòng tin vào quá nhiều người. “Lửa” được phung phí nhiều nơi, ngẫu hứng thay vì có chiến lược, đã không được nhân lên… Nhưng muốn nói gì thì nói, Phương Thanh đã đạt được giấc mơ của mình trong âm nhạc. Và, như nhận định của một nhà sản xuất giàu kinh nghiệm, Phương Thanh, cũng như những ngôi sao cùng thời với cô, có cả một giai đoạn vinh quang của nhạc Việt (1995-2000) làm “của để dành”, đủ để họ tiếp tục “sống” thêm 10 – 15 năm nữa…

2011 không còn “chán”?

[Đẹp tháng 2/2011 | Chu Minh Vũ]

Thay lời mở đầu: Hộp thư facebook của tôi nhận một tin nhắn, đúng hơn là một lá thư viết rất tâm huyết. Tác giả bức thư chia sẻ với tôi về những phát ngôn rất hùng hồn của rất nhiều diva, nhà sản xuất uy tín Việt Nam sau hiện tượng năm 2010 – Vietnam Idol. Từ những phát ngôn ấy, liệu có thành sản phẩm đáp ứng được mong mỏi của mọi người?

”Danh” và “lợi”

Trước hết hãy tự hỏi rằng, điều gì khiến cho những người có tâm và có tài trong làng showbiz “ngủ đông” và chán chường? Đó là thị hiếu. Họ không bắt nhịp được với sự xô bồ của làng âm nhạc và không thể hoà lẫn trong một môi trường có quá nhiều bất cập. Đánh đồng mọi giá trị và thiếu những thước đo khiến công sức nếu bỏ ra của họ thực sự là hoang phí.

Năm 2010, tôi đi xem chương trình hoà nhạc Vietnamnet – “Điều còn mãi” với một dàn hùng hậu các nghệ sĩ nhạc nhẹ và nhạc cổ điển của Việt Nam. Công sức của họ cũng như tài năng không phải bàn, khi nhắc đến những Dương Thụ, Lê Phi Phi, Mỹ Linh, Hồng Nhung, Nguyên Thảo, Trọng Tấn, Phó An My, Đặng Tuệ Nguyên, Xuân Huy… Thế nhưng đáng tiếc, người nhà tôi thông báo với một thái độ bất bình, “VTV cắt sóng trực tiếp ngay khi Mỹ Linh đang hát”. Một diva lớn của Việt Nam trình bày một tác phẩm bất hủ “Người Hà Nội” của Nguyễn Đình Thi với Dàn nhạc giao hưởng quốc gia. Vậy mà bị “người Hà Nội” làm trong Đài truyền hình quốc gia cắt sóng ngang họng. Hãy hình dung hàng ngày có cả chục chương trình event phát sóng thuê trên truyền hình với hàng loạt ngôi sao hát nhép thì một chương trình nghiêm túc chào mừng quốc khánh lại bị đối xử thô bạo.

Tất cả những nghệ sĩ tôi biết đều vui mừng khi người xem hưởng ứng “hiện tượng Uyên Linh” năm vừa rồi. Họ vui vì hoá ra khán giả không hẳn đã quay lưng và không phải khán giả nào thị hiếu cũng đi xuống như báo động trên khắp các mặt báo vài năm gần đây. Lỗi của thị trường từ những nhà quản lý và truyền thông. Truyền hình là một đơn vị điển hình cho cả hai khái niệm “Quản lý” và “Truyền thông” – Vừa có quyền lực và vừa có trách nhiệm trong việc nắn dòng văn hoá. Một khi chính những người làm truyền hình không xác định được đâu là giá trị thực, cái gì cấn cổ suý, cái gì cần cho không biếu không, còn cái gì làm kinh tế… thì còn lâu những thứ tử tế mới có được chỗ đứng đàng hoàng trong xã hội. Bởi phàm là thứ phù phiếm thì thu hút, thứ thời trang thì ồn ào… còn những thứ bền bỉ thì luôn chọn một con đường lặng lẽ và thiệt thòi. Nếu truyền thông đủ tài để thẩm định và phân khúc thị trường rõ ràng, thì đã không có chuyện vơ cả nắm những sao, người nổi tiếng… vào chung một trận địa, để từ đó sinh tị hiềm… từ đồ hiệu, xe hơi đến bài hát, album. Thước đo vật chất đã làm lu mờ đi tài năng.

Xu hướng xã hội hoá truyền hình và truyền thông gần đây càng làm tăng trách nhiệm của những nhà quản lý. Hoặc là đảm bảo được chất lượng và thẩm mỹ nhất định lên trên giá trị thương mại của chương trình, hoặc là lắng nghe và tiếp thu tài năng của một bộ phận nghệ sĩ không công chắc để cải tiến chương trình. Không thiếu những chương trình xã hội hoá thành công cả về chất lượng và thẩm mỹ văn hoá như Con đường âm nhạc, Bài hát Việt… Vậy hoặc là tiếp tục cách làm ấy hoặc là cải tổ bộ máy nhân sự cũ kỹ của mình? Bởi một yếu tố xưa cũ gây cái chết của các chương trình kéo dài dạng Sao mai điểm hẹn hoặc Con đường âm nhạc… đó là, người giỏi không được đãi ngộ thì ra đi, người ở lại cũng không cần làm tốt hơn – vì làm tốt hơn cũng chẳng được đãi ngộ xứng đáng. Cái ý thức “làm vừa đủ và sáng tạo cầm chừng” sẽ chẳng bao giờ tạo ra được sáng tạo, chứ đừng nói đến đột phá và đột biến.

Khi được hỏi năm 2011 sẽ thế nào, người duy nhất lắc đầu: “Chưa khá lên được đâu” là nhạc sĩ Võ Thiện Thanh. Sự ngán ngẩm của Võ Thiện Thanh lại khác những quan điểm trên, tuy không mới nhưng cũng là trách nhiệm của những người quản lý văn hoá. “Internet vẫn khai thác sản phẩm trí tuệ của nghệ sĩ một cách công khai thì không bao giờ tạo ra được một động lực phát triển”. Vấn nạn bản quyền trên internet sẽ còn làm những nhà quản lý rất đau đầu (trước hết, họ cần phải nâng cao trình độ IT rồi mới đến nâng cao nhận thức về bảo vệ quyền tác giả). Còn với nghệ sĩ, rốt cục nó cũng quay trở lại lý do ngay phía trên, làm nghệ thuật nếu không được danh cũng phải được lợi. Danh cũng khó và lợi thì đang bị thu nhỏ lại…

Nhạc sĩ Huy Tuấn sau vai trò đạo diễn âm nhạc thành công ở Vietnam Idol 2010 đang rất hào hứng để có thể bắt tay vào làm những chương trình mới dạng Vietnam Idol Tour hoặc album cho á quân Văn Mai Hương và… thậm chí cả Vietnam Idol 2011. Nhưng bên lề, nhiều người đang sử dụng cái tên Huy Tuấn như tính từ “ngây thơ”. Bởi, không dễ để đạt được những thứ “ước mơ” rất “Huy Tuấn” về thị trường âm nhạc năm mới. Nói như nhạc sĩ Quốc Trung, những nhà sản xuất tư nhân như BHD mà cụ thể là đạo diễn Nguyễn Phan Quang Bình không có nhiều. Chả có nhà sản xuất nào chịu bỏ cả đống tiền để đạt được những thứ chuyên môn như tiêu chuẩn về âm thanh ánh sáng (sử dụng hai hệ thống âm thanh cho trường quay và truyền hình độc lập), xây trường quay riêng, mời toàn “tài năng” để đảm bảo chất lượng chương trình về chuyên môn… Đa số các nhà đầu tư bên ngoài đài truyền hình vẫn đều tính đến độ ăn khách, “rating” khán giả, khả năng chào quảng cáo… và thậm chí cả… “test” nhân viên trong văn phòng (để dự đoán độ ăn khách trên số đông).

Nhưng nói rộng ra, nếu cả một nền âm nhạc giải trí mà vẫn còn trông đợi vào “nguồn sữa” của các nhà tài trợ thì chẳng thể sống nổi. Người xem nhân danh đám đông và dư luận vẫn chưa chịu bỏ tiền mua đĩa, mua vé nuôi người làm nghệ thuật, thậm chí họ chỉ bỏ tiền nhắn tin… khi thần tượng Uyên Linh của họ đậu vớt hoặc ca sĩ số một Mỹ Tâm than thở trên ghế giám khảo Sao mai điểm hẹn “tại sao không ai nhắn tin cho người tài?”.

Nhưng Huy Tuấn… “Huy Tuấn” (ngây thơ) cũng có lý của nó. Ít nhất từ Vietnam Idol và Uyên Linh cũng có thể “giả bộ” mà trông đợi vào một năm mới 2011 với nhiều thay đổi bất ngờ…

Xin thưa, câu trả lời ở đây: Diva ++

Bắt đầu từ Uyên Linh. Với fanpage 117.167 thành viên (con số của ngày 20/1/2011) nếu như có ý thức mua mỗi người 1 CD xịn của cô gái ấy thì chắc chắn Uyên Linh sẽ đứng đầu bảng tiêu thụ sản phẩm ở Việt Nam, và đương nhiên cô ấy sẽ có lãi, có tiền để đầu tư vào các dự án âm nhạc nghiêm túc thay vì ý thức phải lăn tăn làm cái gì ăn khách và nghĩ kế PR. Cứ coi như 50/50 chia cho niềm tin vào “hiện tượng Uyên Linh” thử xem cô ấy có được mức tiêu thụ thành công là 60.000 bản đĩa xịn để kiểm chứng lòng tin của nghệ sĩ vào dư luận hay chỉ là những lời mật ngọt a dua trên mạng xã hội?

Nhạc sĩ Quốc Trung dự tính album của Linh sẽ ra mắt vào tháng 10, nhưng khoảng giữa thời gian đó sẽ có một sản phẩm đệm để đáp ứng mong mỏi của những người phát cuồng vì Uyên Linh… Rõ ràng, cô ca sĩ mới này đang bị đặt vào thế khó khi một bên có fan cuồng đón đợi và một bên là dư luận, truyền thông và cả giới chuyên môn đang chực sẵn để… nhận xét, thẩm định và… bĩu môi.

Nhưng cứ tạm quên Uyên Linh đi, năm 2011 đã mở màn bằng một cô gái “hiện tượng” khác: Lê Cát Trọng Lý, vừa phát hành album trong tháng 1 mang tên mình. Lý là một tài năng, không thể chối cãi với hình ảnh toàn diện của một người sáng tác và hát, tự chơi nhạc cụ và tự định hướng thẩm mỹ và lối đi cho mình. Hình ảnh của Lý cá tính nhưng lại đúng xu hướng văn minh và kế thừa nhiều tinh hoa âm nhạc dân gian. Sự đón nhận của một bộ phận người nghe, trong đó có cả khán giả quốc tế đối với Lý cho thấy cô gái ấy đáng để được đặt lòng tin vào thế hệ mới. Năm 2011, không những cá nhân Trọng Lý mà cả Mai Khôi và… Ngọc Khuê cũng mong muốn được thực hiện album với tác giả Lê Cát Trọng Lý. Nếu Lý thành công, sẽ rất đáng mừng cho cá nhân cô gái nhỏ này, để cô có động lực bước tiếp một cách đàng hoàng chứ chẳng “chênh vênh” như tác phẩm của cô.

Hai tín hiệu Uyên Linh và Lê Cát Trọng Lý suốt 2 năm qua đã sản sinh ra một gu thẩm mỹ trên mức phổ cập rất nhiều. Người ta có thể ra rả chê bai nhạc teen và sự hoài cổ thái quá của trào lưu nghệ sĩ hát nhạc xưa cũ. Nhưng đó thực ra chỉ là sự bức bách nhất thời, khi thị trường chưa sản sinh được tác phẩm và nhân tố tạo tác phẩm mới. Từ Lý và Linh đã cho thấy, thực ra khán giả cho những dòng nhạc nhẹ mới, hiện đại và có văn hoá vẫn có đất sống. Thậm chí, từ Vietnam Idol mới thấy khán giả của lớp ca sĩ diva cũng hiện diện cực kỳ đông đảo và có khả năng nhấn chìm những hiện tượng thị trường đương thời khác. Âm nhạc chất lượng được thăng hoa, nghệ sĩ đứng đắn được tôn vinh…. Thế thì đừng có chán – hỡi các diva!

Trở lại lá thư độc giả tôi nhắc đến ở mở đầu bài báo. Những Thanh Lam, Hồng Nhung, Mỹ Linh, Trần Thu Hà không hề ngủ yên. Vấn đề họ đều là những kẻ khôn ngoan ém sản phẩm chờ thời cơ cả. Mỹ Linh, Hồng Nhung sẽ xuất xưởng hai sản phẩm “My Linh’s acoustic” và “Hồng Nhung – My dreams” với cái tên của hai nhà sản xuất danh tiếng Anh Quân và Quốc Trung. Đương nhiên vẫn có các tác phẩm của Anh Quân, Huy Tuấn, Quốc Trung… nhưng bên cạnh đó có thêm hàng loạt những tác giả trẻ như Nguyễn Đức Cường, Hồng Kiên, Mai Thang… có mặt như một bước kế tiếp. Không những thế, Hồng Nhung đã nhanh chân và bắt đầu cộng tác với nhạc trưởng Lê Phi Phi để thực hiện một dự án âm nhạc với dàn nhạc giao hưởng lớn và có kế hoạch cho một tour diễn xuyên Việt hoành tráng nhất trong sự nghiệp. Thanh Lam cũng có kế hoạch với Lê Phi Phi nhưng có lẽ là sẽ sau Hồng Nhung, và tin chưa chính xác là chị cũng có ý hợp tác với Đỗ Bảo. Còn Trần Thu Hà, dự án âm nhạc vẫn được duy trì với nhà sản xuất Thanh Phương với các ca khúc của tác giả Đỗ Mạnh Nghĩa (Dominik) dự kiến xuất hiện vào cuôí mùa hè. Hà cũng ôm tham vọng những chương trình âm nhạc giá rẻ cho sinh viên như show giá rẻ và ấn phẩm hạng B giá rẻ, nếu có tài trợ thì sẽ thực hiện ngay trong dự án 2011 này.

Mỹ Tâm sau 10 năm đã quay trở lại với nhạc sĩ Quốc Bảo và đang gấp rút thực hiện một dự án đôi, 2 album một lúc với nhà sản xuất này. Mỹ Tâm cũng ngày càng thận trọng, nhưng năm 2011 đã rất thành công với liveshow trong tháng 1 báo hiệu một năm làm việc đầy nhiệt tình. Còn Thu Minh, đừng quên là cô ấy đã thành công với album electronic “Thiên đường” cách đây 4 năm mà chê trách nàng ta sớm thị trường hoá với album 2010 – “Giác quan thứ sáu”. Minh vẫn âm thầm theo dance điện tử suốt năm qua, và dự án với tài năng trẻ Nguyễn Hải Phong “Body language” sẽ ra mắt vào nửa đầu năm 2011. (Ca khúc đầu tiên tung ra thử nghiệm chính là bài “Đường cong” được nhiều thí sinh hát lại trong các cuộc thi nhưng không được phép sử dụng vì… chính chủ chưa tung ra chính thức). Hiền Thục ngoài việc phát hành album nhạc trẻ “Little girl” vào tháng 3 nối dài thành công 2010 của “Taurus” cũng sẽ tung ngay dự án của mình với album “Thiên sứ”, nhưng chưa hết, sẽ còn có dự án mới mang tên “90s” vào cuối năm. Và cuối cùng, một sự chờ đợi rất đáng tin cậy chính là Nguyên Thảo, sau 3 năm hợp tác âm thầm với Võ Thiện Thanh cũng sẽ ra mắt một lúc 2 album, một là đĩa nhạc chillout độc đáo với các ca khúc Trịnh Công Sơn, và một là album concept với tác phẩm của Võ Thiện Thanh dựa trên cảm hứng từ cuốn sách “Đối thoại với thượng đế” của Neale Donald Walsch.

Như vậy khép lại một năm 2010 với phần thắng trong giới chuyên môn thuộc về đa số các giọng ca nam như Đàm Vĩnh Hưng, Đức Tuấn, Tùng Dương, Hà Anh Tuấn… thì năm 2011 mới chính thức là năm trở lại của các “giọng ca nữ thần”. “Năm của diva” chăng, khi tất cả những nữ danh ca đều chuẩn bị kỹ lưỡng cho sự trở lại? Dù có thể còn có những sự thay đổi thời thế bất ngờ, nhưng đầu năm xin đưa ra vài tín hiệu mừng để mọi người vui vẻ và chờ đợi.

Mỹ Linh – Thời thế tạo anh hùng

[Đẹp tháng 2/2011 | Thuỷ Phạm]

Thời thế + Tài năng tạo nên những ngôi sao mang tên “hiện tượng”.

22 tuổi, gần như chỉ bằng hai ca khúc (“Đường cong” và “Take me to the river”), từ một giọng hát bị loại ở Vietnam Idol 2 năm trước, Uyên Linh trở thành “hiện tượng” của làng nhạc Việt năm 2010 đang khô khát một làn gió mới. “Hiện tượng” mang tên Uyên Linh khiến người ta nhớ lại 13 năm trước, một Linh khác, cũng ở tuổi 22, đã bừng sáng một vẻ đẹp “khác thường” (từ dùng của giới báo chí lúc bấy giờ) trên sân khấu Duyên dáng Việt Nam (DDVN) 5. Một nhạc sĩ danh tiếng từng sống qua hai chế độ đánh giá rằng sau Khánh Ly, đây là giọng ca “ma quái” bẩm sinh thứ hai của Việt Nam (báo Thể thao & Văn hóa số 33, ngày 22/4/1977).

Từ bệ phóng DDVN, Mỹ Linh lập tức trở thành ngôi sao số một, không chỉ trong mắt các nhà chuyên môn mà trên cả thị trường ca nhạc. Mỹ Linh có thể xem là “hiện tượng đầu tiên” của nhạc Việt trong chu kỳ 15 năm trở lại đây.

Mỹ Linh: Tiếng hát Việt Nam

Cần phải trở lại một chút với thời điểm nhạc Việt trong khoảng thời gian ba năm: 1995-1996-1997. Nếu hình dung sự phát triển của thị trường ca nhạc Việt Nam như một biểu đồ hình sin, thì đó chính là quãng thời gian vô cùng quan trọng chuẩn bị cho sự thăng hoa trong ba năm kế tiếp: 1997-1998-1999, đi ngang trong năm 2000, bắt đầu rơi trong những năm tiếp theo và 2010 được xem là gần chạm đáy.

Sau thời kỳ sôi nổi của các ca khúc chính trị “em ở nông trường, em ra biên giới”, nhạc Việt bước vào giai đoạn khủng hoảng, hàng loạt các ngôi sao ca nhạc thời này như Họa Mi, Thanh Lan, Ngọc Bích ở Sài Gòn, Ái Vân, Lệ Quyên ở miền Bắc… ra đi; các ca khúc “hit” im thin thít và lặn mất tăm. Đó là vào những năm trước 1995. Thị trường ca nhạc trong nước tràn ngập nhạc ngoại lời Việt và nhạc xưa, nhạc vàng từ hải ngoại đưa về, và đặc biệt là “Mưa bụi”, một series nhạc sến đời mới của các ngôi sao cải lương quay qua tân nhạc!

Chuẩn bị

Chính khoảng thời gian khủng hoảng nói trên của đời sống nhạc Việt cũng là lúc những nỗ lực tìm kiếm sự thay đổi trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Năm 1994, Hội Nhạc sĩ tổ chức 4 đêm trình diễn Nửa thế kỷ bài hát Việt Nam, một sự kiện trình diễn ca khúc Việt Nam lớn nhất trong lịch sử của Hội, những bài hát hay của các thời kỳ được tôn vinh, khán giả đu cả đường ống nước Nhà hát Lớn Hà Nội để tìm một chỗ đứng trong nhà hát! Cũng năm 1994, báo Thanh Niên tổ chức chương trình DDVN lần đầu tiên, từ đây, DDVN bắt đầu trở thành một thương hiệu của sân khấu nhạc Việt, một bệ phóng mạnh mẽ cho những ca khúc và ngôi sao trong nước. Các chương trình DDVN được đầu tư 400-500 triệu đồng, với giá vé trên dưới 100.000 đồng – các con số “khủng” tại thời điểm đó – mà khán phòng Nhà hát Hòa Bình và Nhà hát Bến Thành luôn không còn chỗ trống. Song hành cùng DDVN, từ năm 1995, kỷ niệm 20 năm giải phóng thành phố, Nhà hát Hòa Bình bắt tay sản xuất những show ca nhạc lớn hàng năm, mở đầu bằng chương trình Tuổi 20 (1995). Ở chương trình ra mắt này, Hồng Nhung đã buộc khán giả vỗ tay theo trong từng câu hát khi thể hiện lần đầu tiên ca khúc “Cho em một ngày” (Dương Thụ) với phần đệm guitar của Vĩnh Tâm – một không khí chưa từng có tại các nhà hát lúc bấy giờ! Từ nơi “ở ẩn” (Từ Sơn, Bắc Ninh), sau nhiều năm lăn lộn với thị trường ca nhạc Sài Gòn và cảm thấy bế tắc, nhạc sĩ Dương Thụ nhìn thấy một dấu hiệu mới khiến ông tức tốc quay trở lại Sài Gòn, trung tâm, cái rốn của thị trường ca nhạc cả nước… Mọi sự đã chuẩn bị sẵn sàng cho một làn gió mới. Và Mỹ Linh đã đến, chính vào lúc đó.

Thật sự thì giọng hát Mỹ Linh đã được phát hiện trước đó, một cách không ngẫu nhiên nhưng cũng rất tình cờ. Và “thời thế” luôn đặt Mỹ Linh vào những vị trí “đầu tiên”. Năm 1993, Mỹ Linh (lúc đó mới có trong tay giải nhất cuộc thi Giọng hát hay học sinh phổ thông trung học toàn quốc), theo bạn trai lúc bấy giờ – ca sĩ Bằng Kiều, thành viên ban nhạc Chìa Khóa Vàng – tham dự Liên hoan Các ban nhạc nhẹ toàn quốc tổ chức lần đầu tiên, vào Đà Nẵng với tư cách… đi chơi. Tuy nhiên, vào giờ chót, do ca sĩ của ban nhạc Hoa Sữa không thể có mặt, Mỹ Linh được nhờ thế vai.

Và giọng hát trong trẻo ở độ tuổi 17 ấy đã cùng ban nhạc Hoa Sữa giành giải Nhì Liên hoan còn bản thân được ban giám khảo đặc cách một giải thưởng không hề có trong cơ cấu giải thưởng trước đó: Giải ca sĩ trẻ gây ấn tượng nhất, với bài hát “Thì thầm mùa xuân” của Ngọc Châu. Ngay sau đó, vẫn tiếp tục là vai thế, Mỹ Linh đã thế chỗ xuất sắc cho Hồng Nhung cũng lại vào giờ chót không thể tham gia chương trình Nửa thế kỷ bài hát Việt Nam năm 1994. Năm 1996, trong số những bộ phim truyền hình Việt Nam dài tập lần đầu tiên lên sóng, để lại nhiều cảm tình nhất trong khán giả cả nước có “Người Hà Nội”. Ca khúc trong phim, “Chị tôi” (nhạc Trọng Đài, thơ Đoàn Thị Tảo) với tiếng hát Mỹ Linh lập tức trở thành một trong những ca khúc được khán giả yêu thích nhất trong năm. Cũng năm này, SV96, chương trình ấn tượng nhất của loạt SV trên VTV3 phát phủ sóng trong giới trẻ cả nước với những “Thì thầm mùa xuân”, “Chị tôi”, “Hà Nội đêm trở gió”. Một làn sóng “bài hát Hà Nội” bắt đầu nổi lên… Nhưng phải đợi đến tháng 4/1997 mọi sự chuẩn bị ấy mới thật sự bùng nổ.

Trên đỉnh

Sau 4 lần tổ chức thành công với đạo diễn Tất My Loan, chương trình DDVN 5 diễn ra từ ngày 17/4 đến 20/4/1997 tại Nhà hát Bến Thành, với phần đạo diễn sân khấu được giao vào tay Đoàn Khoa, một đạo diễn trẻ nhiều ý tưởng sáng tạo; phần biên tập âm nhạc do Nguyên Hà, khi đó là thủ lĩnh ban nhạc Hải Âu, đảm trách. Chương trình năm đó qui tụ nhiều tên tuổi của cả ba miền lúc bấy giờ. Sài Gòn có: Bạch Tuyết, Cẩm Vân, Hồng Hạnh, Hồng Nhung, Ánh Tuyết, Như Hảo, Kim Khánh, Y Phụng. Miền Trung có: Vân Khánh (Huế), Mỹ Hạnh (Nha Trang), Siu Black (Tây Nguyên). Hà Nội chỉ có hai đại diện là Tam ca 3A và Mỹ Linh, nhưng một mình Mỹ Linh đã làm nên ấn tượng của DDVN năm ấy. Nhà báo Nguyễn Viện trên báo Thanh Niên cho hay: “Có lẽ không một ai đến với DDVN 5, khi nghe và nhìn Mỹ Linh trình diễn ca khúc “Trên đỉnh phù vân” (Phó Đức Phương) lại không gai người xúc cảm… Mỹ Linh đã làm bàng hoàng khán giả. Ngay cả không ít người trong nghề đã phải trở lại Nhà hát Bến Thành lần thứ hai, thứ ba… để nghe và xem Mỹ Linh”. Còn trên báo Thể thao & Văn hóa, nhà báo Mai Nam tường thuật: “Đọng lại cho khán giả (và được bàn tán khi kết thúc chương trình, được vỗ tay nhiều lần nhất trong một tiết mục) là ca khúc “Trên đỉnh phù vân” của nhạc sĩ Phó Đức Phương do Mỹ Linh hát”. Từ đây, thời kỳ “trên đỉnh” thị trường ca nhạc của Mỹ Linh cũng chính thức bắt đầu. Cần phải nói thêm rằng, lúc bấy giờ, và cả nhiều năm sau này, thị trường ca nhạc Việt vẫn được quyết định bởi “nhiệt độ” của thị trường phía Nam mà Tp.HCM chính là ngòi nổ.

Trẻ trung, mới mẻ, kỹ thuật thanh nhạc điêu luyện (khi đó Mỹ Linh đang học năm cuối khoa Thanh nhạc Nhạc viện Hà Nội) vốn là thế mạnh hơn hẳn các ca sĩ Sài Gòn thiên về hát bản năng, cộng với những bài hát đậm “chất Hà Nội” vốn đang “thời thượng” tại thời điểm này đã đưa Mỹ Linh lên “đỉnh”. Một nhà sản xuất băng đĩa nhạc lớn của Sài Gòn những năm 1997 – 1998 nhớ lại: Đĩa nhạc nào lúc ấy chỉ cần “dính tí” hình Mỹ Linh trên bài là bán chạy, bất cứ là nhạc gì! Hãng phim Trẻ & TTBN Trẻ có Mỹ Linh trong album “Hà Nội mùa vắng những cơn mưa” tiêu thụ số lượng kỷ lục khoảng 150 ngàn bản. Hãng đĩa Vafaco có Mỹ Linh trong album “Mùa thu lá bay”, “Lemon tree” bán hơn 30.000 đĩa CD, hơn 100.000 băng cassette. Hãng phim Phương Nam đầu tư ngay một album video “Tiếng hát Mỹ Linh” – hát nhạc Trịnh Công Sơn, do nhiếp ảnh gia Dương Minh Long đạo diễn – một trong những album video ấn tượng nhất thời kỳ này. Và liveshow xuyên Việt đầu tiên của Mỹ Linh được tổ chức khá vội vã đầu năm 1998 mang tên “Tiếng hát Mỹ Linh”, đặc biệt thành công về khán giả. Cho tới nay, nghĩa là 13 năm sau, cũng chưa có liveshow của ngôi sao nào có sức hấp dẫn công chúng được như vậy: cả 4 đêm trình diễn, khán phòng Nhà hát Hòa Bình hơn 2.000 chỗ đều không còn ghế trống và người ta đến chỉ để nhìn thấy Mỹ Linh và nghe Mỹ Linh hát.

Và tới đỉnh?

Trái ngược với hầu hết các ngôi sao khi lên tới đỉnh thì cố bằng mọi cách ở trên đỉnh ấy càng lâu càng tốt (đi kèm với điều ấy dĩ nhiên là hào quang, danh vọng, tiền bạc), không bao lâu khi ở trên đỉnh phù vân, Mỹ Linh đã rời bỏ cái đỉnh này để bắt đầu leo lên một đỉnh khác. Một quyết định phải nói là vô cùng dũng cảm và mạo hiểm vào thời điểm đó. Ở lần lên đỉnh thứ nhất, Linh hầu như không phải làm gì nhiều: cô hát những gì có sẵn, chủ yếu bằng bản năng trời cho một tiếng hát rất Việt Nam, rất đẹp, rất trữ tình trong các giai điệu với thế mạnh là sự mẫn cảm chảy sẵn trong huyết quản, và cả thị trường lúc ấy chờ đợi Linh hát thứ nhạc đang được tất cả yêu thích. Nhưng ngọn núi thứ hai lại là một điều hoàn toàn khác. Không gì chờ đợi Mỹ Linh ở đó, khi ấy số đông khán giả Việt Nam không biết R&B là gì. Không có bài hát Việt Nam nào đợi sẵn cô ở chân núi ấy với hy vọng “muốn nổi tiếng, hãy đưa bài hát cho Mỹ Linh”. Và bản thân Mỹ Linh, với lối hát “đãi giọng” từng làm nên điều “ma mị” cho khán giả, lại phải học lại từ đầu với kỹ thuật hát mới, đề cao sự chuẩn xác, và đặc biệt là sự nhạy cảm với tiết tấu. Không ít lần thủ khoa Thanh nhạc Nhạc viện Hà Nội, ngôi sao ca nhạc hàng đầu của Việt Nam đã phải khóc tức tưởi trong phòng thu vì bị chê, bị mắng như tát nước vì “hát chưa ra” chất của dòng nhạc mới. Và thách thức lớn hơn gấp bội: nếu ở ngọn núi đầu tiên, người ta có thể nhìn thấy đỉnh, thì ở ngọn núi thứ hai, gần như không thể, thế giới R&B mênh mông như biển với biết bao tên tuổi sáng chói từ Anh, Mỹ – những quốc gia hàng đầu thế giới về công nghiệp âm nhạc, hàng đầu cả về sự chuyên nghiệp, một khoảng cách diệu vợi so với thị trường ca nhạc Việt lúc ấy. Để có đủ sức mạnh và nghị lực leo lên ngọn núi cao vời vợi này, ngoài sự tin yêu với người bạn đời, nhạc sĩ Anh Quân, bản thân Mỹ Linh cũng đã nhìn thấy và tự tin vào con đường đi phía trước. Muốn ra được đại lộ, không thể mặc áo dài đạp xe dù biết đó là một hình ảnh rất đẹp, rất Việt Nam, mà phải học cách lái ô tô! Nếu giờ đây, hầu hết ca sĩ Việt đều đã sắm được ô tô, R&B đã là thời thượng, thì 13 năm trước, đó còn là chuyện hoang đường.

Lúc bấy giờ, năm 1998, khi nghe bản demo album “Tóc ngắn 1” với những tiết tấu mới lạ, một khác biệt hoàn toàn với Mỹ Linh trước đó, một nhà sản xuất âm nhạc hàng đầu ở Tp.HCM đã từ chối khéo việc đầu tư sản xuất vì không tin vào thành công. Vợ chồng Mỹ Linh – Anh Quân buộc phải bỏ tiền túi để “khai sinh” cho “đứa con đầu lòng” của mình (thời điểm này, việc ca sĩ bỏ tiền tự sản xuất album là điều chưa từng xảy ra), một “đứa con” mà sự ra đời của nó khiến số đông tò mò và nghi kỵ nhiều hơn là đón đợi, chào mừng. Bất ngờ là, dù còn gây nhiều tranh luận sau đó, nhưng “Tóc ngắn 1” đã thành công khi xây dựng nên một thương hiệu mới – Mỹ Linh “Tóc ngắn” thay cho Mỹ Linh “Chị tôi”, để tiếp tục có “Tóc ngắn 2”, rồi sau đó là “Made in Vietnam”, “Chat với Mozart”, “Để tình yêu hát” (album), “Mỹ Linh & Anh Em”, “Mỹ Linh Tour ’06” (liveshow). Thay vì lên đỉnh vinh quang chỉ có hai, ba ca khúc, trên ngọn núi này, Mỹ Linh đã có cả một sự nghiệp âm nhạc dày dặn. Không chỉ tiên phong với dòng nhạc R&B Việt Nam, Mỹ Linh cũng tiên phong trong việc xây dựng một phong cách làm việc chuyên nghiệp ở Việt Nam khi có riêng một ê-kíp âm nhạc, mỗi album đều được thực hiện thống nhất từ ý tưởng đến hòa âm, phối khí. Giai đoạn này Mỹ Linh không “hot” theo kiểu “hiện tượng của đám đông” như thời kỳ “Trên đỉnh phù vân” nhưng quan trọng hơn, trong sự nghiệp ca hát của một ngôi sao, cô đã bước lên một bậc thang mới: Từ vị trí một ngôi sao lên vị trí một diva theo nghĩa người tiên phong, dẫn đường và có tầm ảnh hưởng đến những thế hệ ca sĩ khác.

“Mỹ Linh Tour ‘06” đánh dấu sự hợp tác của một ngôi sao Việt với các chuyên gia âm nhạc Nhật Bản, nó đồng thời không che giấu tham vọng đưa âm nhạc Việt Nam vươn ra tầm khu vực và quốc tế. Nếu làm được điều kỳ diệu này, Mỹ Linh một lần nữa sẽ ghi tên mình vào lịch sử nhạc nhẹ Việt Nam. Ba năm sau liveshow này, các hoạt động của Mỹ Linh được dành gần như trọn vẹn cho mục tiêu lớn này. Những chuyến lưu diễn nhỏ tại Nhật, học tiếng Nhật, những dự án kết hợp với các nghệ sĩ Nhật, và sau cùng là 3 album được đưa vào hệ thống phát hành chính thức tại nước này. Nhưng có lẽ những nỗ lực đơn độc này chỉ còn là con thuyền nan với khát vọng đi ra biển lớn. Hội nhập âm nhạc, ở đây là nhạc nhẹ, nhạc pop, là cả một câu chuyện dài, mà ở đây chỉ xin được nhắc đến hai giấc mơ cùng trong khu vực Đông Nam Á và châu Á: Tata Young trước khi được biết đến trong khu vực đã có số lượng phát hành đĩa tại Thái Lan lên tới cả triệu bản; còn ngôi sao K-pop Bi Rain dù có sự hậu thuẫn của một tập đoàn giải trí Hàn Quốc hùng mạnh, mang theo khát vọng của cả nền K-pop, nhưng hai lần sang chinh phục thị trường Mỹ đều phải ngậm ngùi quay về… Đưa R&B, đưa pop-rock về với nơi xuất phát đỉnh cao của nó, thật chẳng khác chở củi khô về rừng. Sự không thành công, hay nói thẳng là thất bại, của những “Made in Vietnam”, “Chat với Mozart” hay “Để tình yêu hát” trên con đường “xuất khẩu nhạc Việt” là chuyện dễ hiểu, nếu không nói là đương nhiên. Song châu Á vẫn có một Anggun, tên tuổi được nể trọng ở châu Âu, có ca khúc từng lọt vào bảng xếp hạng Billboard ở Pháp và album phát hành tại thị trường này lên tới 45.000 bản. Anggun cũng là một câu chuyện dài, nhưng ngắn gọn sự thành công của giọng hát người Indonesia này là sự cộng hưởng xuất sắc của âm nhạc phương Tây với vẻ đẹp độc đáo của bản sắc âm nhạc Indo. Mọi so sánh đều khập khiễng, nhưng có thể thấy ưu thế lại cũng chính là điểm yếu của Mỹ Linh khi ra “đại lộ R&B” chính là giọng hát rất Việt Nam, rất mềm, kể cả trong xử lý những chuẩn mực rất cứng của nhạc phương Tây. Giọng hát ấy dường như vẫn chỉ thực sự lay động đến “ma mị” lòng người khi cất lên những giai điệu thật sự Việt Nam, thay vì chỉ là những bản nhạc “chuẩn hóa”.

Tiếp tục leo dốc trên ngọn núi R&B vời vợi với khát vọng của 10-13 năm trước, lúc này đây với Mỹ Linh chắc chắn sẽ là một thách đố. Thật sự là album mới nhất, “Để tình yêu hát” đã được thực hiện cách đây 4 năm (2006) và cũng không phải là một thành công mới sau “Chat với Mozart”. Dự án Mỹ Linh Accoustic “kéo lê” trong nhiều năm, tới nay vẫn chưa thể ra mắt. Lý do bận bịu gia đình, nhà cửa, chồng con… vẻ như là một lối thoát nhẹ nhàng, thay cho sự thừa nhận đau đớn rằng con đường (âm nhạc) phía trước đang mờ sương, sự tập trung cho giấc mơ âm nhạc đang phân tán và khát vọng âm nhạc không còn mạnh mẽ như 10 – 13 năm trước?

Không ít người cho rằng tài năng này đã “tới ngưỡng” của mình, ngưỡng của một thế hệ. Nhưng người viết bài này vẫn hi vọng rằng, tất cả những điều ấy – sự mờ sương, sự thiếu tập trung, thiếu mạnh mẽ trong khát vọng – ở Mỹ Linh – chỉ là tạm thời. Trong vẻ đẹp dịu dàng, mộc mạc và thơ ngây này luôn tiền ẩn một sức mạnh lạ lùng và khả năng thăng hoa bất ngờ…

Powered by WordPress.com.

Up ↑