Mình thích những bộ phim xem xong cứ quẩn quanh trong đầu kể cả khi chưa hiểu hết nội dung vẫn cảm nhận được mình vừa xem một bộ phim hay. Quốc bảo (Kokuho) là một bộ phim như thế.
Phim kể về cuộc đời của Kikuo (Ryo Yoshizawa, Soya Kurokawa), trải dài suốt 50 năm, từ khi còn là một cậu thiếu niên yêu thích diễn kịch kabuki trong bữa tiệc của gia đình cho đến khi ông trở thành onnagata (nghệ sĩ nam đóng vai nữ) trẻ tuổi nhất được phong danh hiệu Quốc bảo.
Một nghệ sĩ nam đóng vai nữ được trọng vọng như vậy nghe có vẻ kỳ lạ phải không. Tuy nhiên, khi kịch kabuki ra đời ở Kyoto cách đây hơn 400 năm, nam và nữ bị cấm biểu diễn trên cùng một sân khấu dẫn đến sự xuất hiện của những nghệ sĩ nam chuyên đóng vai nữ. Onnagata không dừng lại ở khả năng thể hiện sự nữ tính mà là một kỹ thuật được hoàn thiện, phát triển qua nhiều thế hệ, đòi hỏi sự khổ luyện từ nhỏ cũng như độ tinh tế trong quan sát, cảm nhận và thể hiện nhân vật.
Bộ phim rất chú trọng và làm nổi bật được những yếu tố này nên khi xem, mình không có cảm giác bị gợn hay khó chịu. Hóa trang đậm nhưng không màu mè mà mang tính ước lệ. Điệu bộ, cử chỉ, những bước di chuyển mềm mại, uyển chuyển, đúng dáng vẻ của một người con gái chứ không ẻo lả hay làm quá. Trong khi đó tính nam không hề bị triệt tiêu, thậm chí còn được khéo léo tận dụng và trở thành ưu thế như khi thực hiện những động tác khó, cần sự nhanh nhẹn, dứt khoát, sức bền hay khi khoác lên những bộ trang phục cầu kỳ, nhiều lớp, có thể thay đổi ngay trên sân khấu. Cứ thế mình bị hút vào những buổi tập khắc nghiệt của Kikuo và Shunsuke (Ryusei Yokohama, Keitatsu Koshiyama) lúc thiếu thời cũng như những màn trình diễn công phu của họ trên sân khấu khi đã trưởng thành.

Một điểm đặc biệt nữa là tác giả truyện gốc Shuichi Yoshida từng đảm nhiệm vai trò phụ trách hậu trường kịch kabuki trong ba năm. Quốc bảo đã tái hiện kinh nghiệm đặc sắc đó một cách ngoạn mục qua các cỡ cảnh và góc quay phong phú, dẫn dắt người xem đến với thế giới kabuki từ mọi ngóc ngách.
Cú máy theo chân Kikuo khi đến nhà hát lần đầu tiên khiến mình vừa cảm nhận được sự tò mò, háo hức của cậu bé, vừa thấy như chính mình cũng đang có mặt giữa những lối đi hẹp, trong phòng hóa trang, bên cánh gà sân khấu. Góc quay phía sau diễn viên, khi thì hắt từ dưới lên, khi thì ngang tầm mắt vừa cho thấy vẻ đẹp của dáng điệu (khó phân biệt nếu không biết trước đó là một onnagata) và độ tinh xảo, cầu kỳ của trang phục, vừa mang lại cảm giác mình đang theo dõi vở diễn từ vị trí của một nhạc công hay người chỉnh trang phục. Góc máy rộng ở cự ly gần phía sau màn sân khấu bao quát mọi thành viên tham gia đồng thời cho thấy sự nghiêm cẩn, trang trọng của buổi lễ kế thừa tên hiệu sắp diễn ra.
Hoặc chỉ riêng hành trình xuất hiện bằng sàn nâng của Kikuo trong buổi diễn ra mắt trên sân khấu lớn với nhiều góc quay khác nhau khiến mình vừa cảm nhận được sự hồi hộp trên nét mặt của cậu ấy, vừa theo dõi được sự di chuyển của cậu ấy, lại vừa cảm thấy như chính mình cũng đang đứng trên sàn nâng và được đẩy lên sân khấu vậy. Dù là một khán giả từ ngoài nhìn vào, một người trực tiếp đứng trên sân khấu hay ở trong hậu trường, mọi cảm giác đều rất chân thực và sống động.

Bộ phim còn dành một thời lượng lớn cho những trích đoạn kabuki kinh điển, không chỉ để giới thiệu nghệ thuật kabuki đến với người xem mà còn ẩn chứa tính dự báo hoặc gián tiếp thể hiện tâm tư của nhân vật. Trong đó, mình ấn tượng nhất với Liên sư tử, Đạo thành tự và Thiếu nữ tử đằng.
Chẳng phải mình cảm nhận được ẩn ý của những vở diễn ngay khi xem đâu, mà phải đến khi thầm trách con gái của Kikuo, cô ấy có quyền được trách cha mình nhưng cô ấy chưa hiểu hết về cha cũng như mối quan hệ của ông với mẹ cô. Để rồi nhận ra mối quan hệ giữa Kikuo và con gái có những nét tương đồng với mối quan hệ giữa ông và kabuki. Sinh ra là “một onnagata bẩm sinh” nhưng lại bị thế giới kabuki chối bỏ vì không phải con nhà nòi, từ đó chất chứa bao nhiêu oán hận, khổ đau mà vẫn không thể tách rời, không thể dứt bỏ.
Theo cái đà ấy, những trích đoạn đã xem được lật lại.
Liên sư tử không chỉ có vũ điệu lắc bờm vô cùng đẹp mắt mà còn đặt ra câu hỏi liệu ông Hanai Hanjiro (Ken Watanabe) có thật sự muốn đệ tử của mình đóng thế vai hay cũng giống như sư tử cha, đẩy sư tử con xuống vực để xem nó có thể sống sót và quay trở lại không?
Đạo thành tự là một vở diễn quan trọng, được dàn dựng công phu, tỉ mỉ đến từng chi tiết. Ngay cả vị trí xuất hiện của Kikuo và Shunsuke ở hai buổi diễn khác nhau cũng được sắp đặt khác nhau. Để tránh trùng lặp chi tiết hay để ám chỉ sự chuyển biến trong nội tâm của mỗi người? Từ chỗ chỉ nhìn thấy và đuổi bắt theo những gì mình không có (buổi diễn ra mắt công chúng) đến chỗ đối diện được với những cái không có ấy, cũng là đối diện với chính mình và tìm ra nét diễn riêng không thể lặp lại ở một ai khác (buổi diễn tái hợp sau 17 năm).
Thiếu nữ tử đằng bắt mắt, dễ nhớ vì có đạo cụ là những nhành tử đằng tím rất đặc trưng Nhật Bản. Kể cả khi Kikuo diễn lại trong thời gian một mình nay đây mai đó qua các quán ăn, nhà hàng cũng có thể nhận ra ngay. Với nội dung diễn tả nỗi buồn và sự tuyệt vọng về tình yêu không được đáp lại, tiết mục có khác gì tâm trạng của Kikuo lúc này, khi bị cả giới kabuki quay lưng dù luôn tận tâm tận lực cống hiến.
Thậm chí, tâm trạng ấy còn được đẩy lên cao trào bằng cuộc xô xát giữa Kikuo và vị thực khách vì say đắm “thiếu nữ tử đằng” mà theo vào hậu trường và nổi giận khi phát hiện ra ông là diễn viên giả gái. Chỉ một chi tiết ấy thôi cũng có thể gợi lên nhiều suy nghĩ. Vị trí của nghệ thuật truyền thống trong xã hội hiện đại đã khác trước. Sự nghiệt ngã của thế giới kabuki trọng truyền thống cha truyền con nối thì vẫn còn đó, ít nhất là cho đến thế hệ của Kikuo và Shunsuke. Cuộc xô xát cho thấy sự thảm bại của Kikuo vì đã lợi dụng Akiko để tìm chỗ dựa. Mặt khác, vị thực khách ấy phải chăng là hiện thân của giới kabuki, ngây ngốc trước vẻ đẹp sân khấu và tài năng của Kikuo nhưng chỉ coi ông là kẻ giả mạo, là “kẻ trộm vào nhà người khác và lấy đi thứ quan trọng”.

Tuy nhiên, quãng thời gian này lại bộc lộ rõ nhất sự chân thành của Kikuo với nghệ thuật kabuki. Không còn sân khấu lớn, không còn tham vọng được công nhận bằng mọi giá, dù lay lắt nay đây mai đó không ai biết đến nhưng ông không bỏ diễn, và mỗi lần ra diễn là một lần chuẩn bị cẩn trọng như một lễ nghi. Khi Kikuo quay lại với sân khấu kabuki, mình cảm giác như bộ phim bị rút ngắn lại. Cứ thấy ấm ức vì sao ông không được làm mình làm mẩy một tí. Tài năng, nỗ lực, tham vọng đủ cả, mà sao ông lại phải ở cái thế cho thì được nhận, không cho thì phải chịu.
Nhưng suy cho cùng, chính sự xuất hiện của ông đã là một thử thách không nhỏ với những người xung quanh. Quốc bảo sống Mangiku (Min Tanaka) nhìn thấy tiềm năng của Kikuo ngay từ lần gặp đầu tiên, luôn chứng kiến và xuất hiện vào những thời khắc quan trọng trong sự nghiệp của Kikuo, đã mất không ít thời gian để quan sát, thử thách và việc có thể công nhận Kikuo là một nghệ sĩ kabuki thực thụ đã khiến ông nhẹ lòng. Sư phụ Hanai Hanjiro luôn bị giằng xé giữa con trai và đệ tử, giao vai cho ai, truyền tên hiệu cho ai. Dù có “mượn” Kikuo làm động lực trui rèn, thúc đẩy con trai mình nhưng ông là người đã sớm nhận ra Kikuo là “một onagata bẩm sinh” và dốc sức truyền dạy cho cậu cả về kỹ thuật lẫn cách tồn tại trong nghề. Shunsuke dẫu có gọi bạn mình là “kẻ trộm vào nhà người khác và lấy đi thứ quan trọng” khi không được chọn đóng thế vai của cha nhưng tận sâu bên trong, cậu ấy hiểu rõ Kikuo xứng đáng được nhận vai diễn ấy đến thế nào.
Vậy nên vũ điệu Nàng tiên hạc khép lại bộ phim, thoạt đầu mang cảm giác cô độc, lạnh lẽo khi Kikuo được phong tặng danh hiệu Quốc bảo nhưng bên cạnh không còn bác Mangiku, không còn sư phụ Hanai Hanjiro, không còn bạn diễn Shunsuke. Tuy nhiên nhìn sâu hơn, Kikuo không đi một mình, thành công đỉnh cao mà ông đạt được là hành trình hợp nhất của bốn người bọn họ, những nghệ sĩ kabuki đích thực, sống chết với nghề, luôn truy cầu cái đẹp và bị khuất phục bởi cái đẹp.
Khi xem lần đầu, mình đã nghĩ Quốc bảo vẫn thiếu một cái gì đó để trở thành một bộ phim lớn, tương xứng với vị trí và cuộc đời nhiều thăng trầm của Kikuo. Thật ra chẳng phải, chỉ là bộ phim không diễn biến theo cách dễ thấy như mình mường tượng. Cứ mỗi khi mở khóa được một chi tiết nào đó là mình lại muốn xem thêm lần nữa để nắm rõ hơn, nhớ kỹ hơn. Vẫn còn nhiều chi tiết hay muốn đề cập đến nhưng lại sợ mình sẽ chẻ nhỏ bộ phim ra mất nên quyết định giữ lại cảm giác lơ lửng này, nửa muốn khám phá thêm, nửa muốn chỉ lặng yên ngắm nhìn một bộ phim đẹp thật là đẹp.
Kokuho | Lee Sang-il, 2025

Trả lời